Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 3, 2016

Bắc có ruồi, Nam có chuột

Vũ Thạch 


Không phải ngẫu nhiên mà cho đến thềm Đại Hội XII, nhiều cấp lãnh đạo Đảng vẫn tuyên bố "trong gần 1 triệu cán bộ khai báo tài sản chỉ có 1 trường hợp khai sai", hoặc "điều tra 10 năm qua không ra một trường hợp cán bộ tham nhũng nào", ... NHƯNG nay lại chính Phó Ban nội chính Trung Ương Lê Minh Trí tuyên bố: "Tham nhũng chỉ có cán bộ đảng viên thôi."

Đặc biệt đối với Sài Gòn, cho đến ngưỡng Đại Hội XII, tức chỉ mới 2 tháng trước, báo đài vẫn đăng kết quả thanh tra nguyên năm 2015 không phát hiện một cán bộ tham nhũng nào, hoặc 100% cán bộ hải quan thề nguyền không tham nhũng, ... NHƯNG nay lại chính tướng Công an Phan Anh Minh tuyên bố: "Hầu hết đối tượng thực hiện hành vi tham nhũng là đảng viên, mà Công an thì không được quyền tổ chức trinh sát đảng viên", và còn cụ thể hơn nữa: hơn 50% các vụ buôn lậu có dính tới cán bộ hải quan.

Tướng công an Phan Anh Minh
Điều gì khiến lãnh đạo Đảng quay ngược thái độ 180 độ như thế? Có lẽ câu trả lời khá đơn giản. Đại Hội XII đã kết thúc. Bên thắng, bên thua đã ngã ngũ. Đã đến lúc bên thắng cuộc tính sổ vừa để phân phát chiến lợi phẩm cho hàng ngũ chân tay đang chực chờ, vừa trả thù các món nợ nhục nhã đau đớn cũ, và nhất là loại trừ các đối thủ cũ vĩnh viễn, không để các đối thủ đó có cơ hội vực dậy. Các quan ngại vỡ bình quí trước đây - khi khả năng ra đòn của các phía còn ngang ngửa - nay đang được thay bằng nỗ lực tống lũ chuột thua cuộc ra khỏi bình trước khi đập thẳng tay.

Vậy loại chuột nào sắp bị xách ra khỏi bình? Đọc các báo công cụ, người ta có thể thấy định nghĩa đang được đưa ra càng lúc càng rõ và càng tập trung vào 1 thành phần. Có lẽ rõ nhất cho đến nay là tuyên bố của Cục trưởng Cục chống tham nhũng Phạm Trọng Đạt: "Tham nhũng là những người có chức vụ, quyền hạn". Rõ ràng vòng dây "diệt tham nhũng" đang rút nhỏ dần một cách rất bài bản, từ tình trạng công chức tham nhũng nói chung đã rút vào đến vòng đảng viên tham nhũng, rồi rút nhỏ tiếp đến vòng các đảng viên đang nắm chức quyền, mà ai cũng biết đại đa số thuộc phe cánh vừa thất sủng của ông Dũng. Cứ tiếp tục đà này, sẽ ít ai ngạc nhiên trong những ngày tới, khi tên tuổi của một số đảng viên có quan hệ họ hàng hay tay chân đắc lực của ông Nguyễn Tấn Dũng bắt đầu được nhắc tới trên báo đài. Loại chiến thuật rút dây thòng lọng dần dần này khiến người đọc nhận ra các bài bản quen thuộc từ phương Bắc. Ông Tập Cận Bình cũng từng bước thu nhỏ dần sợi dây thòng lọng như vậy để loại trừ gần 750 ngàn đảng viên CSTQ cho tới nay và đang xiết dần đến mục tiêu tối hậu là cổ kẻ tử thù của ông — Giang Trạch Dân.
Ông Hoàng Bình Quân, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương, Đặc phái viên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, gặp Tập Cận Bình hôm 29 Tháng Hai vừa qua. Ảnh: TTXVN
Bàn tay của ông Tập Cận Bình trong nỗ lực loại trừ phe cánh ông Nguyễn Tấn Dũng phơi bày khá lộ liễu vào đầu tháng 3-2016. Họ Tập chẳng cần che đậy qua cửa ngõ ngoại giao, sứ quán gì nữa, mà triệu tập thẳng sứ giả riêng của ông Nguyễn Phú Trọng là Hoàng Bình Quân sang Bắc Kinh nhận lệnh. Ông Bình Quân vừa về, chỉ vài ngày sau hàng loạt các tuyên bố đổi chiều 180 độ vừa nêu bên trên đồng loạt xuất hiện trên báo đài. Cùng lúc đó, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, người từng sang triều kiến họ Tập ngay sau Hội Nghị 13 và được ưu ái dẫn đi viếng lăng Mao Trạch Đông, nay cũng bất ngờ liên tục phê phán tình trạng nợ công, tình trạng quan liêu thủ tục giấy tờ, và nhiều mặt hoạt động khác của chính phủ như thể các tệ nạn đó vừa mới xảy ra từ đầu tháng 3 đến nay. Ông Nguyễn Sinh Hùng còn đùn đẩy luôn được việc đổ tội không có luật biểu tình là tại bên chính phủ của ông Nguyễn Tấn Dũng.

Nhưng tại sao họ Tập ở xa xôi vạn dặm như thế lại cứ đòi phải diệt phe cánh ông Dũng gấp rút chứ không chờ tiến trình bình thường như trong quá khứ, nghĩa là chờ đến khi có khóa Quốc hội mới rồi sau màn "bỏ phiếu chọn lựa" mới công bố danh sách lãnh đạo chính phủ theo quyết định có trước của Bộ Chính trị? Tức tại sao không chờ đến khoảng tháng 11 năm nay? 

Câu trả lời khá rõ vì tình hình Biển Đông đang nóng lên rất nhanh theo từng ngày. Viễn cảnh Trung Quốc đối đầu quân sự với Mỹ đang tới gần. Để chuẩn bị cho tình hình đó, Bắc Kinh muốn sân sau của họ là Việt Nam phải rất vững chắc, không có phản trắc bất ngờ. Hiển nhiên, trong vài tháng tới, phe cánh ông Dũng sẽ mất dần rồi mất hẳn quyền lực, nhưng tại thời điểm này, tháng 3 - 2016, với vai trò đại diện quốc gia vẫn còn trong tay, phe ông Dũng vẫn là một lực nguy hiểm trong mắt ông Tập. Họ vẫn có thể đặt Trung Quốc trước một số "chuyện đã rồi", như bất ngờ chính thức nộp đơn kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế, hay bất ngờ đặt bút ký kết các giao ước hợp tác liên minh quân sự be bờ Trung Quốc. Khó có thể đoán hết được phản ứng của những kẻ đang bị dồn vào chân tường và sắp mất tất cả. Và đó là lý do tại sao ông Tập buộc ông Trọng phải giải quyết gấp yếu tố Nguyễn Tấn Dũng.
Cuốn "Đặng Tiểu Bình - Một trí tuệ siêu việt" được tái bản và tung ra vào đúng ngày 17 tháng 2, ngày mà họ Đặng "dạy cho Việt Nam một bài học" tại chiến trường biên giới Việt Trung năm 1979.
Sau hết, nếu ai còn nghi ngờ gì về trọng lượng của các chỉ thị từ họ Tập đối với nhóm lãnh đạo quanh ông Nguyễn Phú Trọng, chỉ cần nhìn vào quyết định không cho ấn hành cuốn sách Gạc Ma vòng tròn bất tử, nhưng bắt buộc phải tái bản cuốn Đặng Tiểu Bình - Một trí tuệ siêu việt, và phải tung ra đúng thời điểm 17 tháng 2, tức ngày họ Đặng "dạy cho Việt Nam một bài học" tại chiến trường biên giới Việt Trung năm 1979. Toàn ban lãnh đạo đảng CSVN chịu lãnh nhận cái bạt tai nẩy lửa đầy nhục nhã đó trong sự im lặng thần phục hoàn toàn.

Vì vậy, trong khoảng thời gian ngắn trước mặt, sẽ xuất hiện đoàn quân của ông Nguyễn Phú Trọng khẩn trương đập chuột tơi bời dưới bóng cờ Theo Tập - Với Tập - Vì Tập. Và sẽ không còn mấy ai ngạc nhiên nếu thấy hàng loạt những kẻ vừa mất ghế, đang lũ lượt vào tù lại lầm bầm chửi: Chúng là một lũ hèn với giặc, ác với ... "dân".

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2016

Gia tăng lực lượng quân sự tại Biển Đông giúp Bắc Kinh nắm quyền kiểm soát

Michael Forsythe và Jane Perlez - The New York Times

Quân Đội Trung Quốc tuần tra trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Ảnh chụp hồi Tháng Giêng, 2016. Nguồn ảnh: Reuters

Khi hàng không mẫu hạm John C. Stennis và bốn chiến hạm khác của Hoa Kỳ tiến vào vùng Biển Đông hồi tuần rồi theo dự định thao dượt thường nhật, thông điệp gửi ra rất rõ: Hoa Kỳ là lực lượng quân sự nổi trội trong vùng và dự tính giữ nguyên trạng. Nhưng số lượng chiến hạm Trung Quốc bám sát tàu chiến Hoa Kỳ đông hơn năm ngoái. Viên chức Trung Quốc nói với truyền thông nhà nước là các chiến hạm có mặt đó để “theo dõi, nhận diện, bám sát và đẩy lui” các chiến hạm và máy bay nước ngoài, tùy theo chúng đến sát cạnh “đảo của chúng ta” như thế nào. Cuộc chạm trán không gây ra sự cố này, là vụ đụng đầu mới nhất giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc vì Hoàng Sa và Trường Sa.


Kể từ khi nắm quyền cách đây ba năm về trước, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã dùng các đảo này để bành trướng sự hiện diện của quân đội Trung Quốc trong vùng, từng bước một dựng lên và trang bị các căn cứ xa cách đất liền, bất chấp sự phản đối của các nước láng giềng và Washington.

Tầm vóc của nỗ lực tốn kém hàng tỉ đô la này đã gây căng thẳng trong vùng và củng cố các tuyên nhận chủ quyền của Trung Quốc trên trọn Biển Đông, nơi có một số tuyến đường giao thương nhộn nhịp nhất thế giới. Việc gia tăng quân sự cũng thách thức nguyên trạng quân sự trong vùng Tây Thái Bình Dương từ sau thế chiến thứ hai, giúp Trung Quốc thực hiện được mục tiêu thiết lập vùng trái độn an ninh cách xa bờ biển – một giấc mơ của các chiến lược gia Trung Quốc từ thời chiến tranh Hàn Quốc.

“Trung Quốc muốn một bể nước,” theo lời của ông Marc Lanteigne, một nghiên cứu gia của Viện Ngoại Giao Quốc Tế của Na Uy, chuyên chú về chính sách ngoại giao của Trung Quốc, so sánh thế mạnh của Hoa Kỳ trong vùng biển Caribbean. “Trung Quốc muốn có vùng biển của họ, để họ có các hoạt động quân sự và cảnh sát mà không phải lo lắng về sự có mặt của các lực lượng hải quân Hoa Kỳ, Phi, Việt Nam hay Ấn Độ.”

Việc gia tăng quân sự tiến hành từng bước một nhưng khá là nhanh chóng nếu xét đến tình huống giằng co giữa Trung Quốc và các nước láng giềng trong nhiều thập niên qua. Vét cát để xây các đảo nhân tạo bên trên các bãi đá san hô trong vùng Trường Sa bắt đầu vào đầu năm 2014 nhưng tăng tốc độ hồi năm ngoái, và các đảo này bây giờ có cảng nước sâu và đường phi đạo dài thích hợp cho các tàu chiến và chiến đấu cơ.

Rồi tiếp đó các giàn phóng hỏa tiễn phòng không xuất hiện tại Hoàng Sa. Ảnh vệ tinh hiện nay cho thấy dường như có các giàn rađa mạnh, có tiềm năng nới rộng vùng sát thủ của loại hỏa tiễn đặt trên lục địa Trung Quốc nhằm triệt hạ hàng không mẫu hạm.

Các công sự này không phải là mối đe dọa đối với quân đội Hoa Kỳ, vì có thể bị tiêu hủy dễ dàng nếu xảy ra đụng độ.

Nhưng viên chức Hoa Kỳ ngày càng lo âu là việc gia tăng quân sự, nếu không cản lại, sẽ giúp Trung Quốc kiểm soát một vùng biển rộng lớn và có ưu thế quân sự vượt trội so với các quốc gia láng giềng đang tranh chấp biển đảo. Điều đó thúc đẩy một cuộc chạy đua vũ trang trong vùng và gia tăng rủi ro xung đột.
Ảnh vệ tinh cho thấy các đảo nhân tạo do Trung Quốc xây dựng trong vùng biển tranh chấp tại Biển Đông, phía tây Palawan, Philippines năm 2015. Ảnh: Ritchie B. Tongo


Mặc dầu giới chức Washington nói rằng Trung Quốc chưa thể có khả năng để đẩy lui quân đội Hoa Kỳ ra khỏi Biển Đông, các phân tích gia cho rằng việc gia tăng quân sự sẽ gây khó khăn cho Hải Quân Hoa Kỳ nhanh chóng bảo vệ đồng minh với quân đội yếu hơn như Phi chẳng hạn. Việc triển khai chiến đấu cơ, hỏa tiễn chống phi cơ và rađa mạnh đặc biệt có thể làm Hải Quân Trung Quốc bạo hơn trong khi làm Hoa Kỳ khựng lại.

Khi điều trần trước Ủy Ban Quân Đội của Thượng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ, Đề đốc Harry B. Harris Jr, tư lệnh Bộ Chỉ Huy Thái Bình Dương cảnh bảo rằng các hành vi của Trung Quốc đang làm “thay đổi tình cảnh hoạt động trong vùng Biển Đông.”

Một viên chức tình báo cao cấp của chính quyền Obama, ông James R. Clapper cho biết vào đầu năm tới Trung Quốc “sẽ có nhiều khả năng để biểu dương sức mạnh quân sự trong vùng.” Mặc dầu Trung Quốc chưa xây cất xong, họ có thể triển khai chiến đấu cơ, hỏa tiễn phòng không, hỏa tiễn phòng thủ bờ biển cũng như các chiến hạm lớn và các tàu tuần tra cảnh sát biển đến các đảo nhân tạo của Trường Sa.

Ông Clapper cũng xác nhận là giàn rađa quân sự được gắn trên Đá Châu Viên (Cuarteron Reef) cách đảo Hải Nam 600 dậm, đây là đảo cực nam trong nhóm 7 đảo nhân tạo. Trên lý thuyết giàn rađa này có thể giúp tăng khả năng của loại hoả tiễn diệt hàng không mẫu hạm, DF-21D, tấn công mục tiêu xa hơn và gây khó khăn cho Hải Quân Hoa Kỳ có biện pháp đối phó.

Hồi tháng rồi, Việt Nam phản đối chính thức sau khi ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc đã đặt các giàn hỏa tiễn phòng không HQ-9 trên đảo Phú Lâm (Woody Island). Việt Nam tuyên nhận chủ quyền của cả Hoàng Sa và Trường Sa, và tinh thần chống Trung Quốc dâng cao kể từ khi Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển gần Hoàng Sa.
Tổng thống Obama (trái) cùng Chủ tịch Tập Cận Bình trước Nhà Trắng vào Tháng 9, 2015 khi họ Tập đến Hoa Kỳ. Ảnh: Doug Mills/The New York Times
Việc gia tăng quân sự trong vùng Trường Sa cũng khiến cho Phi Luật Tân giận dữ. Trung Quốc đoạt lấy đảo Scarborough từ tay Phi cách đây bốn năm, một hành động khiến Tổng thống Benigno S. Aquino III của Phi sau đó ví như hành động chiếm đóng Tiệp của Phát-xít Đức.

Thượng nghị sĩ John McCain, chủ tịch Ủy Ban Quân Đội của Thương Viện, gần đây lên tiếng cảnh báo rằng Trung Quốc dường như sắp muốn đẩy lui Phi ra khỏi một đảo khác và khẩn cầu chính quyền Obama lên tiếng về cách phản ứng. Hồi tháng rồi, các tàu bè Trung Quốc bị phản đối khi ngăn chận không cho tàu đánh cá Phi vào một đảo san hô trong vòng tranh chấp.

Các phân tích gia nhận định rằng việc gia tăng quân sự đã tạo dễ dàng cho các tàu Trung Quốc hoạt động một thời gian lâu tại Trường Sa mà không cần quay trở lại đất liền. Các giàn rađa mới gắn trên Đá Châu Viên (Cuarteron Reef) giúp cho Trung Quốc khả năng nhìn xa ngoài chân trời và có thể theo dõi các mục tiêu ở thật xa như eo biển Malacca hàng trăm dậm về phía tây nam.

Trong buổi họp thượng đỉnh với Tổng thống Obama vào tháng Chín, họ Tập hứa là sẽ không “đeo đuổi quân sự hóa” vùng Trường Sa, nhưng không đá động gì đến Hoàng Sa, và Bắc Kinh từ đó khẳng định là họ có quyền có “các căn cứ phòng thủ giới hạn” trong vùng Biển Đông, và so sánh với việc Hoa Kỳ có căn cứ tại Hawaii.

Các phân tích gia Trung Quốc lập luận rằng việc gia tăng quân sự gìn giữ hòa bình bằng cách ngăn cản các quốc gia tranh chấp, kể cả Brunei, Indonesia, Mã Lai và Đài Loan. Theo Xu Liping, một nhà nghiên cứu tại Học Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc, “Lý do chánh của việc xây cất là để nói với các nước khác hãy ngưng các hành động khiêu khích, bởi vì nếu họ tiếp tục lấn tới, chúng tôi có khả năng phản công.”

Giới chức Hoa Kỳ cho biết Trung Quốc sẽ xây các bồn trữ nhiên liệu lớn trên đảo, giúp cho các chiến đấu cơ lưu lại trong vùng lâu hơn, rồi sau đó tuyên bố “vùng nhận diện phòng không” trên Biển Đông như họ đã từng làm trong vùng biển Đông Hải hồi cuối năm 2013.

Trung Quốc tự cho quyền yêu cầu máy bay ngang qua vùng phải thông báo và sẽ có hành động quân sự đối với ai không tuân lệnh. Nhật và Hoa Kỳ khước từ không nhìn nhận quyền này cũng như không hợp tác.

Chính quyền Obama tuy nhiên đã vất vả để có được một chính sách làm chậm lại hoặc ngăn chận việc quân sự hóa của Trung Quốc trên Biển Đông. Một viên chức quốc phòng, xin ẩn danh, lưu ý là tuy Trung Quốc có thể giành được vùng biển, hành vi của họ cũng đã khiến các nước láng giềng như Phi và Việt Nam nới rộng quan hệ quân sự với Hoa Kỳ.

Trong những tháng gần đây, Hoa Kỳ gia tăng các cuộc tuần tra “tự do hải hành” trong vùng Biển Đông, gửi tàu chiến và máy bay Hoa Kỳ vào vùng mà Trung Quốc tuyên nhận chủ quyền để khẳng định quan điểm của Hoa Kỳ rằng đây vẫn là vùng hải phận và không phận quốc tế.
Nhưng Trung Quốc phản ứng bằng trưng dẫn các cuộc tuần tra này để cho rằng chính Hoa Kỳ mới quân sự hóa Biển Đông – do đó Trung Quốc tiếp tục xây cất.
 
Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Wang Yi tại cuộc họp báo hôm 8 Tháng 3, 2016. Ảnh: Reuters
Wang Yi, bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc tuyên bố trong một cuộc họp báo, “Trung Quốc là nước đầu tiên khám phá ra, đặt tên, phát triển và quản trị các đảo trong vùng Biển Đông. Lịch sử sẽ chứng minh ai là khách và ai là chủ nhân thật sự.”

Hoàng Thuyên lược dịch
Theo The New York Times – 8/3/2016

Nguồn: Chân Trời Mới Media


Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2016

Đất nhiều nắng (Sunnylands) và vùng nước đục

The Economist
21/2/2016


Việc Trung Quốc đưa nhiều người dân ra khỏi mức khó nghèo và quốc gia trở nên hùng mạnh nhanh chóng là một điều đáng lưu ý. Đáng lưu ý không kém là thái độ của Hoa Kỳ, đương kim siêu cường, xem việc trỗi dậy của Trung Quốc là một cơ hội hơn là mối đe dọa. Tuy thế tại Biển Đông nơi có 30% lượng giao thương thế giới qua lại thì Trung Quốc lại có cơ nguy gây hại cho sự sắp xếp ôn hòa này. Cách hành xử của Trung Quốc tại đây đã xem thường luật pháp quốc tế, làm các láng giềng sợ hãi và gia tăng rủi ro đụng độ với một số quốc gia đó và với chính Hoa Kỳ. Nếu nhớ lại khẩu hiệu của chính họ về ổn định và hòa bình thì Trung Quốc nên nhượng bước.

Hành vi khiêu khích mới nhất là việc đặt hai giàn phóng hỏa tiễn phòng không trên đảo Phú Lâm (Woody) tại quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc không phủ nhận động thái leo thang quân sự nguy hiểm này, thay vào đó lại biện hộ cho quyền “có phương tiện tự vệ cần thiết và giới hạn”. Quần đảo Hoàng Sa cũng được cả Việt Nam và Đài Loan tuyên nhận chủ quyền.

Hình vệ tinh đảo Phú Lâm chụp hôm 3 Tháng Hai (trái) và 14 Tháng Hai (phải). Ảnh: CNN
Trung Quốc đã cuống cuồng xây cất trong vùng Trường Sa, xây dựng đảo nhân tạo trên các đá và bãi đá ngầm nơi mà Phi Luật Tân, Đài Loan và Việt Nam cũng tuyên nhận chủ quyền. Việc xây cất này, cũng như các giàn hoả tiễn, bất chấp tinh thần của tuyên bố mà Trung Quốc ký kết năm 2002 với Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) trong đó các bên hứa “hành xử tự kiềm chế” trong vùng biển tranh chấp. Trung Quốc cũng khước từ không chấp nhận thẩm quyền của tòa án quốc tế tại The Hague đang xét xử vụ kiện của Phi Luật Tân theo Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Nếu, mà nhiều phần là vậy, phán quyết của tòa sắp tới đây xử có lợi cho Phi Luật Tân, Trung Quốc sẽ phớt lờ đi. Đây không phải là một đối tượng có trách nhiệm trên thế giới mà Hoa Kỳ hy vọng là Trung Quốc sẽ trở nên.

Hai yếu tố có thể khiến cho Trung Quốc triển khai giàn hỏa tiễn. Tin tức này đến trong lúc Tổng thống Obama đón tiếp 10 lãnh đạo của các nước ASEAN trong một hội nghị thượng đỉnh tổ chức tại Sunnylands, California, một sự việc chưa từng xảy ra tại Hoa Kỳ. Hội nghị nhằm cho thấy sự đoàn kết của Hoa Kỳ với ASEAN. Trung Quốc thì xem đây là mưu để khích các nước láng giềng bạo dạn hơn để chống lại họ, và cũng là một phần của chiến lược be bờ của Hoa Kỳ.

Chiến hạm USS Lassen được sử dụng trong chuyến công tác ‘tự do hải hành’ vào cuối năm ngoái. (Ảnh: US NAVY/ Reuters)

Thứ nhì, cuối năm ngoái Hoa Kỳ thực hiện công tác “tự do hải hành” trong vùng Biển Đông, với hai lần gửi chiến hạm đi qua lại các vùng biển mà Trung Quốc tuyên nhận chủ quyền. Đây là một nỗ lực khá trễ để cho thấy các mảnh đất và đá trong vùng biển này, phần lớn nằm chìm dưới mặt biển, không thuộc chủ quyền của ai cả và mở rộng cho mọi loại hải hành. Rất tiếc là Hoa Kỳ không làm rõ thông điệp này, khi xác nhận rằng cả hai chuyến công tác dưới dạng “qua lại không gây hại”, tức là theo Luật Biển cho phép ngay cả tàu chiến qua lại không đe dọa gây hại trong hải phận của quốc gia khác. Trung Quốc có vẻ thấy các công tác này đầy khiêu khích và tìm cách ngăn chận Hoa Kỳ trong tương lai - hoặc có thể chúng chỉ tạo lý cớ cho Trung Quốc.

Mùa tranh cử


Trung Quốc có thể tính toán rằng đây là thời điểm tốt nhất, trong những tháng chót của nhiệm kỳ của một ông tổng thống mà họ cho là yếu và không thích đối đầu, để tạo ra sự đã rồi và không lật ngược lại được trong vùng biển đang kiểm soát. Do đó thay vì nhường bước trước hăm dọa này của Trung Quốc, Hoa Kỳ nên tiếp tục xác quyết quyền tự do hải hành và bay ngang không phận, và làm một cách rõ ràng, không mơ hồ. Các quốc gia bạn trong vùng, vốn dĩ thường ngại ngùng không dám làm mích lòng Trung Quốc, nên hậu thuẫn Hoa Kỳ hết mình. Biển Đông với các tuyến đường giao thương quan trọng mà trở thành Hồ Trung Quốc thì chẳng ích lợi gì cho họ.

Chân Trời Mới Media - Hoàng Thuyên lược dịch

Theo The Economist - 20/2/2016
 
Nguồn: The Economist

Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2016

Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-ASEAN tại Sunnylands đã đạt được gì?

Prashanth Parameswaran - The Diplomat
18/02/2016

Ảnh: Reuters
Trong tuần này tổng thống Obama tiếp đón các nguyên thủ quốc gia ASEAN dự Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-ASEAN tổ chức ở Sunnylands, California. Hội nghị đã đạt được những gì?

Sự kiện Hội nghị được tổ chức tự chính nó là một thành quả đáng kể đối với vị trị hiện thời và tương lai của Đông Nam Á và ASEAN tại Hoa Kỳ. Chính sách Châu Á thường bị chi phối bởi những quan tâm liên quan đến vùng Đông Bắc Á Châu. Việc tổ chức hội nghị chỉ cho ASEAN lần đầu tại Hoa Kỳ là một biểu hiện quan trọng của chính quyền Hoa Kỳ hiện nay can dự vào Đông Nam Á và là tín hiệu rõ rệt cho chính quyền kế vị về tầm quan trọng của ASEAN.

Đôi bên cần tính đến việc thúc đẩy đối tác chiến lược Mỹ-ASEAN được hoàn tất Tháng 11 vừa rồi. Giới chức Hoa Kỳ cho biết là Hội nghị Thượng đỉnh bớt hình thức hơn là các hội nghị Mỹ-ASEAN thông thường với nhiều kết quả thương lượng cần đạt. Tại Hội nghị Thượng đỉnh kết quả chỉ là một văn kiện với những nguyên tắc đã được đồng ý.

Văn kiện chung của Hội nghị thượng đỉnh My-ASEAN là Tuyên Bố Sunnylands, trong đó tái xác nhận các nguyên tắc cơ bản để thúc đẩy sự hợp tác đi tới. Văn kiện 17 đoạn liệt kê các nguyên tắc này, từ việc tôn trọng các chuẩn mực chung như tự do hải hành và phát triển kinh tế chung và bền vững đến quyết tâm chung giải quyết những vấn đề riêng biệt như khủng bố, buôn người và thay đổi khí hậu toàn cầu.

Có một số người phê bình tài liệu này mơ hồ. Nhưng các viên chức đã nói trước là kết quả của Hội nghị không có chủ đích liệt kê những việc làm; việc đó đã được thực hiện Tháng 11 năm ngoái trong Kế Hoạch Hành Động Để Thực Hiện Chương Trình Đối Tác Chiến Lược My-ASEAN, một tài liệu 14 trang với đầy đủ chi tiết làm sao để thúc đẩy mối quan hệ cho đến năm 2020.


Ảnh: PCOO




Điểm tổng quát của Tuyên bố chung là để nhấn mạnh những nguyên tắc ủng hộ cho cam kết chung của Hoa Kỳ và ASEAN cho một trật tự pháp luật trong vùng Châu Á-Thái Bình Dương để gìn giữ hòa bình, thịnh vượng và tiến bộ trong vùng. Dầu là những nguyên tắc đề ra tàu bè có thể di chuyển trên đường biển thế nào cho an toàn; các chính sách đeo đuổi để tiến đến việc mở rộng và cạnh tranh trong lãnh vực kinh tế; hoặc cổ xúy cho thượng tôn luật pháp, điều hành guồng máy tốt, định chế có trách nhiệm và nhân quyền phổ cập, tất cả những việc này đều cột chung vào việc duy trì trật tự pháp luật.

Ngoài tuyên bố chung còn có một số thành quả cụ thể. Phần lớn trong lãnh vực kinh tế. Nối Kết Mỹ-ASEAN (US-ASEAN Connect) là một đề xướng của chính quyền Hoa Kỳ nhằm tận dụng mạng ba chân vạc ở Đông Nam Á – Singapore, Jakarta, và Bangkok – để phối hợp nhịp nhàng hơn các hoạt động kinh tế của Hoa Kỳ trong vùng và nối kết giới doanh nghiệp, đầu tư và thương mại.

Tuy ý kiến này không gì mới và phần lớn của đề xướng này tập trung vào việc phối hợp và nối kết các chương trình và cấu trúc hiện thời của Hoa Kỳ, có một số phát triển mới bao gồm cả một loạt các hội thảo giao thương để giúp sáu quốc gia Đông Nam Á chưa là thành viên của TPP tìm hiểu hiệp ước này cũng như những cải tổ cần thiết để tham gia trong tương lai. Hiện thời chỉ có bốn thành viên ASEAN có trong TPP (Brunei, Mã Lai, Singapore và Việt Nam), ba quốc gia đang muốn vào (Indonesia, Phi Luật Tân, Thái Lan), và ba quốc gia khác hiện nay không đủ điều kiện tham gia vì không thuộc Diễn đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á-Thái Bình Dương (Lào, Miến Điện, Cam Bốt).
Về mặt an ninh, hàng loạt vấn đề được thảo luận kể cả việc chiến đấu với Islamic State và đối đầu với việc bành trướng của Trung Quốc tại Biển Đông. Tuy thông báo chung không có đưa ra những điều cụ thể liên quan đến Biển Đông, Hoa Kỳ đã có những hợp tác với các quốc gia Đông Nam Á đằng sau hậu trường.

Ảnh: Reuters







Có một số dấu hiệu tại Hội nghị nhấn mạnh cho thấy tầm quan trọng của những vấn đề này đối với cả Hoa Kỳ và ASEAN. Thí dụ như, Tổng thống Obama tiết lộ trong buổi tiếp xúc báo chí là ông đã hứa hỗ trợ các quốc gia ASEAN khai thác tốt hơn dữ liệu của Interpol để ngăn chận luồng di chuyển của các nhóm khủng bố. Và tuy bản tuyên bố chung không đề cập đích danh Trung Quốc, ba trong số mười bảy đoạn văn được dành để nói đến vấn đề an ninh đường biển. Điều đó cho thấy tầm quan trọng đối với cả hai bên.

Một quan tâm khác trước Hội nghị là Washington sẽ đối xử với đề tài dân chủ và nhân quyền như thế nào. Ngay từ đầu hướng giải quyết của chính quyền Obama đã không làm hài lòng giới cổ xúy nhân quyền. Chính quyền Hoa Kỳ xem những vấn đề này nên được đối xử song phưong và riêng tư với từng cá nhân lãnh đạo; giới hoạt động nhân quyền thì muốn nó trở thành một vấn đề đa phương, với một số kêu gọi thành lập Đối Thoại Nhân Quyền Mỹ-ASEAN một cách chính danh.

Chính quyền Hoa Kỳ có nỗ lực giải quyết các quan tâm này trước đó, với bà Susan Rice, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia gặp gỡ trao đổi với các tổ chức xã hội dân sự trước Hội nghị. Trong diễn từ sau khi kết thúc Hội nghị vào ngày thứ Ba, tổng thống Obama phát biểu rằng ông đã nói rõ cam kết của Hoa Kỳ với việc thượng tôn pháp luật, điều hành guồng máy tốt, định chế có trách nhiệm, và nhân quyền phổ cập, luôn cả đứng về phía người dân và xã hội dân sự để bảo vệ tự do ngôn luận, tụ tập, và tự do báo chí. Ông đề cập riêng biệt đến việc phục hồi lại quyền điều hành dân sự tại Thái Lan và duy trì tiếp cận với Miến Điện trong tiến trình chuyển hóa chính trị.

Ảnh: The Desert Sun







Tuy thế vẫn không ngăn được hàng trăm người biểu tình bên ngoài phản đối việc chính quyền Hoa Kỳ tiếp xúc với lãnh tụ của một số quốc gia phi dân chủ tại Đông Nam Á.

Chân Trời Mới Media

Nguồn: The Diplomat

Thứ Năm, 18 tháng 2, 2016

Thời điểm nguy cấp cho Washington và Bắc Kinh tại Biển Đông

Dan De Luc, Keith Johnson - Foreign Policy

Các giàn phóng hỏa tiễn phòng không loại HQ-9 của Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc trong buổi diễu hành tại Quảng trường Thiên An Môn, Bắc Kinh ngày 3 tháng Chín, 2015 nhân kỷ niệm 70 năm sau chiến thắng kết thúc Thế Chiến Thứ Hai. (Ảnh: Greg Baker/AFP/Getty Images)

Khi đưa hỏa tiễn phòng không vào vùng đảo tranh chấp tại Biển Đông trong tháng này, Bắc Kinh đã làm tình hình nóng hơn trong việc đối đầu với Hoa Kỳ và với phán quyết của Tòa Án Trọng Tài Quốc Tế sắp tới đây sẽ làm tình hình căng thẳng hơn nữa.

Các chiến thuật cứng rắn của Trung Quốc buộc Hoa Kỳ phải quyết định có nên lấy phản ứng mạnh hơn – ngay cả nếu có nguy cơ đụng độ quân sự – hay ngồi yên đó để Bắc Kinh tiếp tục tháo gỡ một trật tự thế giới đã giữ được 70 năm hòa bình và trù phú tại Châu Á.

Sắp tới đây Tòa án Trọng tài Quốc tế tại The Hague sẽ ra phán quyết lần đầu tiên về tính pháp lý của các tuyên nhận chủ quyền của Trung Quốc, mà thường được biết qua bản đồ chín vạch chiếm gần hết Biển Đông. Với việc đưa các hỏa tiễn phòng không tầm dài đến đảo Woody chỉ làm tăng thêm tầm quan trọng của phán quyết sắp tới.

Các chuyên gia nghĩ rằng phán quyết của tòa nghiêng về phía Phi Luật Tân, bên đưa đơn kiện năm 2013. Điều này sẽ buộc cả Washington và Bắc Kinh lấy chọn lựa: Hoa Kỳ sẽ phải quyết định là có nên và ở mức độ nào để tuân thủ phán quyết đó dùng lực lượng Hải quân Hoa Kỳ. Và Trung Quốc, vốn dĩ từ chối không tham gia vụ kiện, sẽ gặp một thử thách về điều mà họ tự cam kết là sẽ tuân theo luật lệ quốc tế.

Phán quyết của tòa án sẽ đánh dấu một bước ngoặt khác trong việc tranh chấp trên Biển Đông. Một cựu viên chức của chính quyền Obama xin giấu tên đưa nhận định là “phán quyết đó sẽ bác bỏ tất cả thẩm quyền pháp lý và tinh thần của Trung Quốc hoặc sẽ không có tác dụng gì. Nếu tòa phán quyết là đường chín vạch vô nghĩa, thì áp suất sẽ đè lên phía Trung Quốc phải có phản ứng nào đó.”

Hình vệ tinh trên đảo Phú Lâm hôm 3 Tháng 2 (trái) và hôm 14 Tháng 2 (phải). Nguồn ảnh: ImageSat International
 Trong tuần này, ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc đã đưa hệ thống hỏa tiễn phòng không đến đảo Phú Lâm (Woody Island), trong vùng quần đảo Hoàng Sa. Giới phân tích quốc phòng đánh giá rằng việc đặt hỏa tiễn này là “một leo thang quân sự đáng kể” và là cú phản công lại đối với hai chuyến công tác tự do hải hành của Hoa Kỳ vào năm ngoái và đầu năm nay.
Một số chuyên gia đánh giá việc bố trí hỏa tiễn này là một khuôn mẫu của việc quân sự hóa trong tương lai trên các vùng đảo tranh chấp khác tại Trường Sa.

Bước cờ mới của Trung Quốc đã khiến giới hành pháp Hoa Kỳ giận dữ và kêu gọi Hoa Kỳ phải có phản ứng mạnh hơn. Thượng nghị sĩ John McCain, Chủ tịch Ủy Ban Quân Đội của Thượng Viện Hoa Kỳ tuyên bố là các công tác tự do hải hành không đủ, Hoa Kỳ phải có những hành động khác để buộc Trung Quốc phải trả giá cho hành xử của họ.

Bắc Kinh bố trí hệ thống hỏa tiễn này ngay trong thời điểm Tổng thống Obama chủ tọa buổi họp với 10 thành viên ASEAN. Trong buổi họp Thượng đỉnh vấn đề Biển Đông chiếm phần lớn các trao đổi. Tuy không nêu đích danh Trung Quốc, bản tuyên bố chung vào cuối Hội nghị kêu gọi tôn trọng trật tự luật lệ quốc tế, tránh quân sự hóa vùng tranh chấp; tôn trọng tự do hải hành.

Ai là đồng minh?

Cho đến nay các tuyên nhận chủ quyền và các hoạt động bồi đắp đảo của Trung Quốc đã đẩy các quốc gia Châu Á đến gần Hoa Kỳ hơn. Tokyo và Washington duyệt lại đường lối quốc phòng chung, và Nhật Bản đã vất lập trường chủ trương hòa bình sang một bên. Phi Luật Tân thì mời Hoa Kỳ trở lại sau 25 năm đuổi đi. Ngay cả Việt Nam, một quốc gia cộng sản với mối quan hệ giao thương chặt chẽ với Trung Quốc, cũng nhích lại gần với Washington và ngõ ý muốn mua vũ khí Hoa Kỳ để phòng chống lại Trung Quốc.

Trớ trêu thay, một đồng minh của Hoa Kỳ trong vùng lại khiến cho phản ứng của Washington rắc rối hơn.

Đài Loan, một đồng minh cốt cán từng mua hàng tỉ Mỹ kim vũ khí quốc phòng của Hoa Kỳ, lại có vẻ như sát cánh với Trung Quốc trong việc tranh chấp. Tổng thống Mã Anh Cữu đến thăm viếng đảo Taiping hồi tháng rồi, bất chấp những phản đối của Hoa Kỳ. Khi nhấn mạnh Taiping là một hòn đảo chứ không phải đá như Phi Luật Tân gọi như thế, Đài Loan làm cho hồ sơ vụ kiện của Phi Luật Tân yếu đi, và cung cấp lý do để Trung Quốc tranh cãi. Tuy nhiên Trung Quốc cũng chẳng sốt sắng với động thái của Đài Loan vì làm thế lại nhìn nhận Đài Loan là một đất nước có chủ quyền riêng.

Giới chức Hoa Kỳ nghĩ là Đài Loan tuyên bố như thế trước khi có phán quyết của tòa chỉ để muốn nhấn mạnh đến những tuyên nhận chủ quyền của họ trong vùng tranh chấp.

Những đòn phản công

Trọng tâm của vụ kiện của Phi Luật Tân là cho rằng các địa dư trong vùng tranh chấp là đá chứ không phải đảo. Thoạt nghe có vẻ không gì khác lắm nhưng có sự phân biệt quan trọng: Theo luật pháp quốc tế, đảo thì có được vùng đặc quyền kinh tế nới dài ra 200 dậm; đá thì không được. Và đá ngầm dưới mặt nước khi thủy triều lên không được quyền có hải phận.

Tuy nhiên Tòa Án Trọng Tài Quốc Tế không có quyền thực hiện án lệnh. Và Trung Quốc đã tuyên bố từ đầu là họ không tuân theo phán quyết. Các chuyên gia cho rằng như thế thì chỉ còn có Hoa Kỳ mới có khả năng để thực hiện làm cho phán quyết có giá trị. Chẳng hạn như có chuyến tự do hải hành đi ngang những địa dư không được xem là đảo chẳng hạn.

Phiên điều trần tại Tòa Án Liên Hiệp Quốc trong vụ kiện Trung Quốc của Phi Luật Tân.
Phán Quyết của Tòa The Hague đòi hỏi chính quyền Obama quyết định xem có nên tái xác nhận thẩm quyền của tòa án với các cuộc tuần tra.

Các nhà phân tích và cựu viên chức Hoa Kỳ cho biết là Bộ Ngoại Giao sẽ khởi động một chiến dịch ngoại giao sau khi có phán quyết để xiển dương đây như là một quyết định hệ trọng nêu gương về cách giải quyết tranh chấp một cách ôn hòa.


Phán quyết bất lợi cho Trung Quốc đến từ một tòa án được trọng vọng như tòa The Hague sẽ là một sự xấu hổ chính trị cho một quốc gia tự cho mình là tác nhân có trách nhiệm trên diễn đàn thế giới. Nhưng Bắc Kinh cũng có thể quyết định lờ đi, dựa trên suy tính là Washington và các quốc gia Châu Á không dám liều lĩnh đụng độ quân sự hoặc trả đũa kinh tế.

Và dẫu phán quyết như thế nào đi nữa, chẳng ai dám bảo là Bắc Kinh sẽ từ bỏ những tuyên nhận chủ quyền hoặc sẽ tháo gỡ các công việc bồi đắp đảo đã làm. Đối với Washington, kết quả tốt nhất có lẽ là Trung Quốc lặng lẽ ngưng các hoạt động quân sự hóa, hoặc có động thái hòa hoãn cho phép ngư phủ Phi Luật Tân đánh cá trong vùng biển tranh chấp.

Nhưng ngay cả khi Hoa Kỳ phản công toàn diện, bằng cách gia tăng tuần tra, gia tăng hợp tác quân sự với các đối tác và đồng minh tại Châu Á, và củng cố tầm với kinh tế qua hiệp ước TPP, có lẻ quá trễ để đẩy lui cơn thủy triều Trung Quốc. Bắc Kinh có vẻ có ý định xác quyết những quyền lợi quan trọng không chối cãi trong vùng Tây Thái Bình Dương, dầu có làm cho quan hệ với Washington xấu đi.

Chân Trời Mới Media - Hoàng Thuyên lược dịch


Nguồn: Foreign Policy

Thứ Tư, 10 tháng 2, 2016

Các công tác tự do hải hành có nguy cơ gây rắc rối tại Biển Đông

Bill Hayton


Vào ngày 30 tháng Giêng, Hải Quân Hoa Kỳ thực hiện chuyến công tác “tự do hải hành” thứ nhì tại Biển Đông trong vòng 4 tháng. Bộ Quốc Phòng Trung Quốc gọi công tác này “cố tình khiêu khích … vô trách nhiệm và cực kỳ nguy hiểm” nhưng khó làm Hoa Kỳ sờn lòng. Sẽ có thêm nhiều công tác như thế vì Hoa Kỳ cho rằng họ đang bảo vệ “trật tự của luật pháp quốc tế” để chống lại những nỗ lực của Trung Quốc và các quốc gia khác sửa lại luật biển. Các công tác này có thể sẽ lấn thêm vào các lãnh vực mà Trung Quốc cho là nhạy cảm và gia tăng nguy cơ đụng độ.


“Qua lại không gây hại”

Theo tuyên bố từ Văn phòng của Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, việc đi qua của chiến hạm USS Curtis Wilber là “một qua lại không gây hại trong phạm vi 12 hải lý của đảo Triton”, trong phạm vi lãnh hải của các đảo Hoàng Sa. Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam trước đây và hiện bị Trung Quốc chiếm đóng nhưng Hoa Kỳ nói thẳng là không can thiệp vào việc tranh chấp này. Thay vào đó họ cho là đang duy trì các nguyên tắc chung của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) đặt ra, mà trong đó cho phép các tàu bè quyền qua lại không gây hại xuyên qua lãnh hải của một quốc gia khác. Điều 19 của UNCLOS mô tả việc qua lại mà không gây hại, “khi nó không gây thiệt hại cho hòa bình, trật tự hoặc an ninh của quốc gia ven biển”. Điều 17 không phân biệt tàu quân sự hay dân sự nhưng nhiều quốc gia, kể cả Trung Quốc, cho rằng điều này không áp dụng cho tàu quân sự.

Đảo Triton
Bộ Luật Lãnh Hải 1992 của Trung Quốc tuyên bố rằng chiến hạm nước ngoài cần sự chấp thuận của chính quyền Trung Quốc trước khi tiến vào lãnh hải Trung Quốc (Điều 6). Không riêng gì Trung Quốc trong việc này. Ít nhất 10 quốc gia khác, kể cả Ba Tây, Ấn Độ, Mã Lai và Việt Nam, có luật quốc gia yêu cầu chiến hạm nước ngoài hoặc thông báo với giới chức địa phương hoặc có sự chấp thuận trước khi qua lại lãnh hải (từ bờ biển ra tới 12 hải lý) hoặc qua lại trong vùng Đặc Quyền Kinh Tế (từ bờ ra tới 200 hải lý).

Hoa Kỳ - và hầu hết các quốc gia với hải quân hoạt động trên biển cả - lờ hẵn đi các luật lệ này. Kể từ năm 1979 Hoa Kỳ đã thực hiện chương trình Tự Do Hải Hành để chủ tâm thách thức và ngăn chận điều này trở thành một nguyên tắc được pháp luật quốc tế chấp nhận. Phản ứng của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đối với chuyến công tác của tàu USS Curtis Wilbur là kêu gọi Hoa Kỳ hãy công nhận luật hàng hải Trung Quốc - một quan điểm mà Hoa Kỳ đã bác bỏ xem không phù hợp với UNCLOS.
Tuy thế Hoa Kỳ có vấn đề chính trị khi hành xử dựa vào UNCLOS. Thượng viện Hoa Kỳ đã không thông qua luật này. Vào tháng Tám năm 2014, 34 thượng nghị sĩ Đảng Cộng Hòa tuyên bố là họ chống việc phê chuẩn vì UNCLOS có lập ra “Cơ quan Thẩm Quyền về Đáy Biển Quốc Tế” để điều tiết các hoạt động kinh tế dưới lòng biển và bởi vì UNCLOS không cho phép rõ ràng các quốc gia thu thập tình báo trên biển. Tất cả các cơ quan chính quyền Hoa Kỳ cho rằng những chống đối này là không xác đáng nhưng vẫn không thuyết phục được các thượng nghị sĩ. Hải Quân Hoa Kỳ bảo rằng họ tuân thủ theo các điều khoản của UNCLOS dù thế nào đi nữa, vì chúng đã trở thành luật pháp quốc tế thông thường, nhưng về mặt tinh thần thì nếu các thượng nghị sĩ bỏ phiếu chấp thuận thì sẽ mạnh mẻ hơn.

“Đường cơ sở thẳng”

Vào tháng Mười Một năm 2015, Pentagon cho biết là dự định tiến hành ít nhất hai công tác tự do hải hành tại Biển Đông mỗi bốn tháng. Vào tháng Giêng 2016, tư lệnh vùng Thái Bình Dương, Đô Đốc Harry Harris cho biết là các công tác này sẽ “gia tăng về mặt phức tạp và tầm vóc và các lãnh vực thách đố”. Hải Quân Hoa Kỳ có lẽ sẽ thách thức Trung Quốc về nhiều vấn đề nhạy cảm. Một trong số đó là câu hỏi về “đường cơ sở thẳng”.

Vào ngày 15 tháng Năm 1996, chính quyền Trung Quốc tuyên bố điều gọi là “đường cơ sở thẳng” dọc theo bờ biển và chung quanh quần đảo Hoàng Sa. Theo quan điểm của Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác - những đường này không phù hợp với UNCLOS. Công ước định rằng đường cơ sở thẳng không thể vạch ra quanh các nhóm đảo xa xôi và Hoàng Sa cách bờ đến 260 km (130 hải lý).

Chiến hạm USS Curtis Wilbur
Trong tương lai một chuyến công tác tự do hải hành của Hoa Kỳ sẽ thách thức tuyên bố đường cơ sơ thẳng như thế nào? Một cách có thể làm là tàu chiến đi qua phạm vi 12 hải lý của một đảo Hoàng Sa theo lối “qua lại không gây hại” nhưng rồi trong một vùng khác ở ngoài 12 hải lý nhưng bên trong phạm vi của đường cơ sở thẳng - thực hiện một số động thái quân sự như thao dượt, mở rađa nhắm bắn hoặc gửi trực thăng lên. Trong khi Hoa Kỳ hoàn toàn có quyền làm những việc này theo diễn giải chung chung của UNCLOS, chắc chắn là quân đội Trung Quốc sẽ thấy những hành động đó có tính cách khiêu khích và có thể tìm cách ngăn cản công tác tự do hải hành bằng các lực lượng quân sự hay bán quân sự (như đội dân vệ hàng hải).

Cần lưu ý là lập trường của Trung Quốc về “qua lại không gây hại” cũng không rõ ràng. Vào tháng Chín năm 2015, năm chiến hạm Trung Quốc đi ngang qua phạm vi 12 hải lý của các đảo Aleutian của Hoa Kỳ mà không xin phép trước. Nhưng quanh bờ biển của họ thì vẫn tiếp tục khước từ quyền hạn này cho các tàu chiến của các quốc gia khác.

Thế trận hiện nay
 
Đô Đốc John Richardson và Đô Đốc Wu Shengli

Hiện thời thì quan hệ giữa hai hải quân có vẻ tốt. Một vài ngày trước chuyến công tác tự do hải hành, tư lệnh của hai hải quân, Đô Đốc John Richardson và Đô Đốc Wu Shengli, có buổi hội thảo video hai tiếng đồng hồ để thảo luận tình hình Biển Đông. Chuyến tuần tra của tàu USS Curtis Wilbur diễn ra không có sự cố gì. Tuy nhiên, các công tác tự do hải hành của Hoa Kỳ sẽ tiếp tục và Trung Quốc sẽ tiếp tục xem đó là động thái khiêu khích. Hoa Kỳ sẽ cho là họ hành xử theo đúng luật pháp quốc tế nhưng Trung Quốc sẽ cho là Hoa Kỳ vi phạm luật lệ quốc gia họ. Thông tin liên lạc giữa đôi bên sẽ phải rõ ràng và hữu hiệu để tránh xác suất đụng độ.

Hoàng Thuyên lược dịch

Nguồn: Chatham House 





Thứ Hai, 11 tháng 1, 2016

Trớ trêu nghiệt ngã: Cộng sản Trung Quốc dập tắt hoạt động nghiệp đoàn

Eli Friedman, Aaron Halegua và Jerome A. Cohen - The Washington Post
3/1/2016


Họ bắt giới tranh đấu cho phụ nữ vào mùa xuân. Vào mùa hè, họ bắt các luật sư bảo vệ nhân quyền. Vào ngày 3 tháng 12, đêm trước Ngày Hiến Pháp Trung Quốc, nhà chức trách khởi động một cuộc đàn áp rộng lớn vào giới hoạt động nghiệp đoàn trong vùng kỹ nghệ tỉnh Quảng Đông.

Kể từ khi xuất hiện cách đây 20 năm, các tổ chức phi chính phủ về lao động đã gánh chịu thường xuyên những cuộc đàn áp, sách nhiễu, bao gồm kiểm tra thuế vụ, côn đồ bạo hành và bị công an thẩm vấn liên tục. Nhưng đợt đàn áp gần đây là nghiêm trọng nhất. Dường như Đảng Cộng Sản có ý định dập tắt hoàn toàn các hoạt động nghiệp đoàn trong xã hội dân sự.

Trong chiến dịch này, hàng chục người bị công an thẩm vấn và hăm dọa, và bảy người bị bắt giữ với tội cáo buộc hình sự. Luật sư yêu cầu gặp nhưng không được. Tội cáo buộc họ là “tụ tập đám đông để phá rối trật tự xã hội”, kích động công nhân đòi hỏi quá đáng và có hành vi cực đoan.

Các biện pháp bất công của công an là hoàn toàn không hiểu sự việc. Xung đột và tranh chấp lao động tại Trung Quốc đã gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây, với các cuộc biểu tình đình công, cản đường và ngay cả nổi loạn xảy ra thường xuyên. Nhưng công nhân đình công là vì luật lao động không được áp dụng và không có cách nào hữu hiệu để giải quyết những tranh chấp trước pháp luật - chứ không phải là công nhân bị các NGO xách động. Chẳng hạn như cuộc đình công tại hãng giày Lide, công nhân biểu tình vì chủ nhân không chịu đóng tiền bảo hiểm xã hội và các khoản khác theo luật định.

Thật ra, các NGO lao động đóng vai trò hữu ích trong việc giải quyết các tranh chấp. Đối sách của giới chủ nhân Trung Quốc với đình công thường là lờ đi các đòi hỏi của công nhân, liên lạc với chính quyền để kêu công an đến hành hung công nhân và bắt giữ lãnh đạo đình công. Ngược lại, như trong vụ Lide, các NGO lao động cố vấn công nhân đình công sắp xếp các đòi hỏi, bầu ra người đại diện, và tham dự vào các thương thảo chung với chủ nhân để giải quyết.

Thật vậy, chủ nhân hãng Lide cuối cùng đồng ý đóng tiền an ninh xã hội còn thiếu, thuyên chuyển một số công nhân, trả tiền nghỉ việc cho một số khác và tiếp tục thương lượng với công nhân. Các cuộc thương thảo tập thể có tổ chức như thế giữa chủ nhân và công nhân nhiều phần đạt được “mối quan hệ lao động hài hòa” mà Trung Quốc muốn có hơn là chu kỳ tiếp diễn của công nhân biểu tình và công an đàn áp.

Biểu tình đòi tự do cho các nhà hoạt động nghiệp đoàn bị bắt giữ trong đợt bố ráp hồi tháng 12, 2015 tại Quảng Đông.
Rất tiếc là việc giam giữ bất hợp pháp chỉ phản ảnh ý muốn giữ độc quyền kiểm soát của chính quyền hơn là chính sách quan hệ tốt về lao động. Các NGO được xem là mối đe dọa cho nhà nước cũng như lợi ích của giới chủ nhân. Chính quyền cho rằng họ muốn thúc đẩy quyền hạn và lợi ích của công nhân, nhưng lại không chịu cho xã hội dân sự đóng vai trò nào trong tiến trình này.

Vì thế mà chính quyền còn đi xa hơn chuyện bắt giữ và thẩm vấn. Truyền hình nhà nước cho phát ra chiến dịch bôi nhọ các lãnh tụ nghiệp đoàn. Giới hoạt động nghiệp đoàn trên toàn quốc thông báo là tình trạng sách nhiễu gia tăng không những riêng cho họ mà còn cho gia đình họ.

Một phần của vấn đề là Tổng Liên Đoàn Lao Động Trung Quốc do nhà nước kiểm soát chiếm độc quyền đại diện và bảo vệ quyền lợi của công nhân, nhưng trên thực tế chẳng làm gì nhiều. Khác với các NGO lao động, họ ít khi nào giúp đỡ công nhân bị bóc lột hoặc áp lực chủ nhân tuân theo luật lệ. Điều này bắt nguồn từ ý niệm của Đảng Cộng Sản xem nghiệp đoàn như một lực lượng “làm hài hòa” giữa chủ nhân và công nhân. Hơn nữa, giới chủ nhân thường áp đặt kiểm soát phi lý lên nghiệp đoàn ở công ty. Công nhân do đó không tin tưởng vào nghiệp đoàn, tạo ra khoảng trống cho người khác cổ võ thật sự cho quyền lợi của họ - mà chính các NGO lao động trám vào khoảng không đó.

Nhưng nhà cầm quyền Trung Quốc không muốn nhìn nhận vai trò tích cực của các tổ chức xã hội dân sự. Các nhóm xã hội dân sự được xem như là mối đe dọa. Nhận tài trợ nước ngoài đặc biệt được coi như là có động cơ xấu.

Nếu chính quyền Trung Quốc thật sự muốn cải thiện quan hệ lao động, họ sẽ yêu cầu nghiệp đoàn học hỏi từ các NGO lao động. Thay vì vậy họ lại mở chiến dịch sách nhiễu, bôi bẩn và giam cầm những người đang nỗ lực để làm hảng xưởng và xã hội trở nên hợp pháp và công bằng hơn. Kết quả của hành động này chỉ tạo ra thêm xung đột, đàn áp và luật pháp hỗn loạn.

Chân Trời Mới Media - Hoàng Thuyên lược dịch

Nguồn: The Washington Post

Theo Chân Trời Mới Media

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2016

Nhìn lại tình hình Biển Đông trong năm 2015

Nguyễn Ngọc Bảo

Trong năm 2015, biến cố nổi cộm nhất trong tương quan quốc tế vùng Đông Á và Đông Nam Á chính là tranh chấp tại Biển Đông sau khi Trung Quốc ngang nhiên xây dựng các cấu trúc nhân tạo hải cảng, phi trường trên các bãi đá chìm để biến thành vùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế thuộc chủ quyền Trung Quốc.

Với 3,5 triệu cây số vuông, 11 tỷ thùng dầu dự trữ, 420 tỷ mét khối khí thiên nhiên phối kiểm được, và địa dư chiến lược kiểm soát hải lưu xuất, nhập cảng hàng hóa của nhiều quốc gia, Biển Đông trở thành một vùng tranh chấp nóng trên nhiều bình diện.

Thứ nhất, về mặt pháp lý là vụ đơn kiện Trung Quốc của Phi Luật Tân trước Tòa Trọng Tài Thường Trực đang tạo nhiều sự chú ý của các quốc gia trong vùng.

Thứ hai, trên bình diện ngoại giao, sự căng thẳng trên các diễn đàn quốc tế trong khu vực giữa Phi Luật Tân, Nhật Bản, Úc, Hoa Kỳ, với Trung Quốc đã làm hao tổn không biết bao nhiêu công sức của các nước qua những cuộc Hội nghị.

Thứ ba, trên bình diện quân sự là sự đối dầu giữa hải quân Trung Quốc với hải quân Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai, Hoa Kỳ đã tạo ra nguy cơ chạy đua vũ trang giữa các nước.

Thứ tư, đối với Việt Nam, Biển Đông là vấn đề gây phân hóa rõ rệt trong nội bộ lãnh đạo CSVN về việc thoát Trung hay bám Trung hiện nay.

I- Chiến lược xâm lược một cách yên lặng của Trung Quốc thất bại
 
Từ nhiều thập niên trước, Trung Quốc đã chuẩn bị chiến lược Trỗi Dậy Trong Hòa Bình (Peaceful Rising) trên lãnh vực kinh tế, ngoại giao, quốc phòng nhằm trở thành một siêu cường có thể cạnh tranh với Hoa Kỳ về mọi mặt, sau khi đã trở thành nền kinh tế thứ nhì của thế giới với tổng sản lượng quốc gia (TSLQG) 11.400 Tỷ mỹ kim (MK) so với Hoa Kỳ 18.000 Tỷ MK, Nhật 4.100 Tỷ MK).

Nhờ chiếm lĩnh thế giới về hàng hóa may mặc, gia dụng, điện tử với giá nhân công được giữ ở mức thấp, một hạ tầng cơ sở được tân trang nhanh chóng nhờ vào nỗ lực sao chép, lấy cắp các kỹ thuật tiền tiến Tây phương môt cách khôn ngoan, chọn lọc qua mạng Internet (qua các tổ hackers quân đội), với khối lượng đầu tư trực tiếp lớn lao (Foreign Direct Investment) là128 tỷ MK trong năm 2014 so với Hoa Kỳ 86 tỷ MK, dựa trên tiềm năng thương mại của một thị trường khổng lồ hơn 1,4 tỷ người. Trung Quốc dần dần thực hiện bước đầu của chiến lược kiểm soát hoàn toàn các vùng thuộc chu vi sinh tử của họ (Biển Đông, Quần Đảo Điếu Ngư).

Nhưng chiến lược này hiện nay đang thất bại. Tại Điếu Ngư, Trung Quốc đã không áp lực, doạ nạt được Nhật để rời bỏ đảo này. Trong các Tháng Tư, Tháng Năm, Tháng Sáu, 2015, phi cơ chiến đấu Nhật đã cất cánh để ngăn chặn hơn 170 lần các phi cơ ngoại quốc vi phạm không phận Nhật. Trong số này có 66% là phi cơ Trung Quốc. Trước đó con số này là 340 trong năm 2014, và 300 trong năm 2013.

Phi cơ chiến đấu Nhật đã ngăn chặn hơn 170 lần các phi cơ ngoại quốc vi phạm không phận Nhật trong năm 2015; trong số này có 66% là phi cơ Trung Quốc.
Những hành động khiêu khích của Trung Quốc đã gây ra phản ứng ngược khiến Nhật Bản tăng cường ngân sách quốc phòng lên mức kỷ lục gần 40 Tỷ MK, đồng thời gia tăng quân số thêm 10.000 quân, đưa các chiến hạm tối tân để phòng thủ 200 đảo thuộc dẫy quần đảo trải dài 1400 cây số phía Nam Nhật tới phía Bắc Đài Loan. Ngoài ra Nhật Bản đã chấp thuận gởi chiến hạm tuần tra trên Biển Đông cùng với Hoa Kỳ cũng như dân chúng Nhật kêu gọi tẩy chay hàng hóa Trung Quốc.

Mặc dù Trung Quốc có nhiều chiến hạm, tiềm thủy đĩnh hơn Nhật, nhưng về mặt kỹ thuật, khả năng tác chiến, mức tối tân các hệ thống võ khí, hải quân Nhật vẫn chiếm ưu thế hơn Trung Quốc. Lý do dễ hiểu là Nhật được Hoa Kỳ cho phép chế tạo lại các võ khí hiện đại nhất như hệ thống radar điện tử Aegis, hỏa tiễn chống hỏa tiễn SM3-6, khu trục hạm loại Arleigh Burke, chiến đấu cơ F-15.

Tại Biển Đông, nhờ sự đồng lõa tay sai của lãnh đạo CSVN, Trung Quốc đã chiếm hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam từ năm 1974, và từ đó đến nay tìm cách gặm nhấm các đảo tại Trường Sa (Fiery Cross – Đá Chữ Thập, Mischief Reef – Đá Vành Khăn), và các đảo thuộc lãnh hải phía Tây Phi Luật Tân (Scarborough Shoal - Bãi Cạn Hoàng Nham) qua việc dùng sức mạnh hải quân lấn chiếm và dựng lên các phi trường quân sự trên các đảo nhân tạo mà Công Ước LHQ về Biển 1982 UNCLOS không công nhận là một đảo.

Tàu nạo vét Trung Quốc trên Đá Vành Khăn trong vùng tranh chấp Trường Sa.

Chủ trương Trung Quốc là sau khi chiếm xong bằng võ lực rồi mới tìm cách thương thuyết song phương với Phi Luật Tân. Phi Luật Tân cương quyết từ chối thương thuyết song phương và đưa vấn đề đường Lưỡi Bò 9 điểm của Trung Quốc ra trước Tòa Trọng Tài Thường Trực tại The Hague vào đầu năm 2013. Sau gần 3 năm xét xử và 4 phiên tòa, vào ngày 29/10/2015, Tòa xác nhận có thẩm quyền thụ lý đơn kiện của Phi Luật Tân về đường Lưỡi Bò, bất chấp các phản đối của Trung Quốc.

Các quốc gia ven Biển Đông khác như Mã Lai, Nam Dương và các quốc gia tiên tiến đồng minh với Hoa Kỳ như Nhật Bản, Úc, nhìn ra tham vọng của Bắc Kinh là dùng Biển Đông làm bàn đạp để tiến tới chuỗi đảo thứ hai, mở ra các hải lộ đại dương, nên đã cùng Ấn Độ hình thành một loại liên minh quân sự không chính thức chống lại sự bành trướng của Bắc Kinh. Chỉ riêng có Việt Nam đứng ngoài vì áp lực của Trung Quốc.

Liên minh này đã tiến hành các tập trận chung, tân trang hải quân với các võ khí tối tân của Hoa Kỳ, Pháp; riêng Hoa Kỳ đã phái khu trục hạm Arleigh Burke Lassen, phi cơ tuần thám đại dương P-8 Poseidon, oanh tạc cơ chiến lược B-52 bay trên không phận hay đi vào trong phạm vi 12 hải lý của những hòn đảo Trung Quốc đang chiếm đóng (FON - Freedom Of Navigation), tầu Ấn Độ đi vào vùng đặc quyền khai thác kinh tế của Việt Nam thăm dò dầu hỏa để thách thức sức mạnh của hải quân Trung Quốc. Cho đến nay, Trung Quốc chỉ phản đối bằng miệng.

Vấn đề Biển Đông đã được quốc tế hoá rộng rãi trong 2015 (Dialogue Sangri-La, Hội Nghị song phương Hoa Kỳ – Úc, Hoa Kỳ-Nhật, Diễn Đàn APEC) và trở thành mối quan tâm chung của thế giới, vì một cuộc đụng độ giữa hải quân Trung Quốc và phe Liên Minh, có nguy cơ dẫn đến một cuộc tranh chấp lớn giữa các cường quốc.

Mã Lai (với bãi cạn Luconia Shoals) và Nam Dương (với quần đảo Nantuna) đang xem xét để đưa Trung Quốc ra trước Tòa Trọng Tài, trong trường hợp Trung Quốc tiếp tục xâm phạm chủ quyền 2 nước này. Nhóm G7 (08/06/2015), Liên Âu đã lên tiếng cảnh giác về âm mưu quân sự hóa Biển Đông, gián tiếp ám chỉ Trung Quốc.

Nói tóm lại, Trung Quốc đã thất bại trong âm mưu phân hóa và đàm phán song phương với từng quốc gia ASEAN, đặc biệt là Phi Luật Tân. Trung Quốc chỉ thành công đối với Việt Nam, đây là quốc gia ven Biển Đông duy nhất mà Trung Quốc khống chế được lãnh đạo bản xứ vì sự nhu nhược và bản chất tay sai của họ.

II) Quan hệ CSVN – Hoa Kỳ – Trung Quốc
 
Quan hệ CSVN – Hoa Kỳ
 
Hiện nay CSVN vẫn đang giữ thái độ đu dây giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, dù ảnh hưởng Trung Quốc vẫn chi phối nặng nề trong guồng máy đảng, cụ thể qua việc sai khiến qua quyền lợi, mua chuộc, nắm tẩy được các thành phần lãnh đạo cao nhất như Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư Đảng CSVN; Trương Tấn Sang, Chủ Tịch Nước; Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng; Nguyễn Sinh Hùng, Chủ Tịch Quốc Hội.

Hiện nay tương quan giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trở nên thường xuyên với Hiệp Ước TPP và vấn đề Biển Đông. Mức giao du giữa quân đội CSVN và Hoa Kỳ đã gia tăng nhiều trong năm 2015, chiến hạm Hoa Kỳ đã nhiều lần ghé thăm Việt Nam tại Đà Nẵng, Sài Gòn, Cam Ranh. Ngoài ra có rất nhiều sĩ quan trung cấp và cao cấp CSVN đã được mời tu nghiệp tại các trường đào tạo sĩ quan nỗi tiếng tại Hoa Kỳ như West Point, Annapolis, Cao Đẳng Quân Sự về Không Quân... từ nhiều năm nay.

Chiến hạm Hoa Kỳ ghé thăm Đà Nẵng.
Hoa Kỳ gỡ bỏ một phần lệnh cấm bán võ khí sát thương trên biển vào ngày 18/11/15 và để cho Nhật chuyển nhượng 10 tầu tuần duyên hạng nhẹ cho CSVN. Với truyền thống lịch sử bất khuất và độc lập của dân tộc Việt Nam, đã từng giữ vững đất nước trước các âm mưu thôn tính của Trung Quốc qua lịch sử và tinh thần cầu tiến, siêng năng, hội nhập rất nhanh và thành công trong xã hội Hoa Kỳ của gần 3 triệu người Hoa Kỳ gốc Việt, sự hiện diện của nhiều người Hoa Kỳ gốc Việt trong guồng máy tiểu bang và liên bang Hoa Kỳ với những trách vụ cao cấp hoạch định về chính sách, điều hành, Hoa Kỳ đánh giá cao khả năng của Việt Nam nhằm đối đầu với Trung Quốc; nếu được hỗ trợ.

Hiện nay, các liên hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam có gia tăng cường độ trong năm 2015 ở nhiều cấp bộ khác nhau, với các vòng thương thuyết về TPP (Trans Pacific Partnership) và mức giao thương gia tăng (xuất cảng 19 tỷ MK qua Hoa Kỳ – nhập cảng 4,3 tỷ MK). Chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của Nguyễn Phú Trọng vào ngày 5/7 qua lời mời của Tổng Thống Obama đánh dấu một mốc điểm quan trọng cho cả hai bên.

Về phần Việt Nam, muốn nâng quan hệ chiến lược có thêm phần cụ thế với Hoa Kỳ, nhằm quân bình lại áp lực quá nặng từ phía Trung Quốc, xoa dịu phản ứng phẫn nộ của dân chúng và của nhiều thành phần trong quân đội. Phần vụ của các cộng đồng, tổ chức tại Hoa Kỳ là mở rộng các hướng vận động cho nhân quyền, đặc biệt các điểm về Công Đoàn, Quyền Sở Hữu Trí Tuệ, Thông Tin, Hiệp Ước TPP, khai dụng sức mạnh cử tri và vị trí trong xã hội Hoa Kỳ nhằm hỗ trợ cho các lực lượng dân chủ tại Việt Nam, và cần thuyết phục lập pháp và hành pháp Hoa Kỳ là chỉ khi Việt Nam có một chính quyền dân cử trong một thể chế tự do dân chủ thì lúc đó Việt Nam mới quyết tâm và có khả năng đương đầu với Trung Quốc.

Quan hệ CSVN – Trung Quốc
 
Việt Nam là một địa bàn chiến lược đối với Trung Quốc. Điều này phản ảnh qua toan tính thôn tính và đồng hóa Việt Nam của tất cả các triều đại Trung Hoa từ hơn 2.200 năm nay. Từ 24 năm nay sau khi Liên Xô sụp đổ (1991), nhu cầu giữ chặt Việt Nam trong vòng kiềm toả của mình lại càng trở nên quan trọng hơn đối với Trung Quốc, khi mà các quốc gia có cùng ý thức hệ XHCN chỉ còn sót lại vài ba nước. Trong khi đó, để duy trì được quyền lực của đảng CSVN, hệ thống tuyên huấn của CSVN đều hoàn toàn dựa trên đường lối và chính sách của Trung Quốc, để làm kim chỉ nam cho đường lối của Đảng CSVN.


Nguyễn Tấn Dũng và Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì nhân chuyến thăm Việt Nam tháng 6/2014.

Sự lệ thuộc Trung Quốc về chỗ dựa về chính trị, theo thời gian với sự vươn lên của Trung Quốc thành sự lệ thuộc ngày càng chặt chẽ về mặt kinh tế, văn hóa, ngoại giao và mất dần chủ quyền, Hoàng Sa đã bị thôn tính hoàn toàn, năm 1988 nhiều đảo tại Trường Sa bị xâm chiếm, và tình trạng này tiếp tục cho đến nay.

Với sự phát triển vượt bực của mạng Internet, thái độ qụy lụy, bán nước của lãnh đạo CSVN ngày càng lộ rõ. Ngoài ra sự quyết tâm đề kháng để sống còn, tránh bị đồng hóa thành người Trung Hoa đã là một đặc điểm chung của người Việt Nam từ lịch sử. Do đó, trong vài năm gần đây, trước thái độ xâm lược của Trung Quốc ngày càng rõ nét, ngạo mạn, xem thường Công pháp Quốc tế, sẵn sàng dùng mọi áp lực bẩn thỉu nhất để đè bẹp, khống chế các quốc gia nhỏ hơn, một số thái độ đề kháng đã xuất hiện trong guồng máy trung tầng của đảng, nhất là trong quân đội CSVN cho nhu cầu truyền thống bảo vệ chủ quyền dân tộc chống ngoại xâm.

Đó là một phần lý do, tại sao cho đến giờ (sau một vài lần cho hải quân đi tuần tiễu chung với hải quân Trung Quốc trong mấy năm trước), người ta chưa thấy quân đội CSVN tập trận chung với quân đội Trung Quốc, hay chiến hạm Trung Quốc đến viếng thăm các hải cảng Hải Phòng, Đà Nẵng, Cam Ranh hay Sài Gòn tại Việt Nam.

Hiểu rõ khả năng đề kháng của dân tộc Việt Nam, lãnh đạo đảng CSTQ đã tìm cách gài bẫy để nắm tẩy, mua chuộc các thành phần lãnh đạo đảng CSVN hầu thôn tính trong êm thắm đất nước và đồng hóa dân tộc Việt Nam mà không phải hao tốn sinh mạng và vật chất qua một cuộc chiến tranh. Qua tất cả các triều đại Tổng Bí Thư, từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, cho đến Nguyễn Phú Trọng; ảnh hưởng của Trung Quốc rầt nặng nề và chi phối rất nhiều lên sự lựa chọn thành phần lãnh đạo và dàn cán bộ cao cấp trong hàng chục năm qua.

Trên mặt Biển Đông, Trung Quốc chiếm Hoàng Sa và xây dựng sân bay quân sự tại Trường Sa. Trên đất liền, Trung Quốc đã gởi hàng chục ngàn công nhân và gia đình xâm nhập vào vùng Cao Nguyên Trung Phần tại Vũng Áng, khống chế các guồng máy chính trị, kinh tế tại Lào và Cam Bốt để bao vây Việt Nam.

Với tất cả khả năng khống chế đó, Trung Quốc đã chi phối chính trường Việt Nam trước các Đại Hội Đảng CSVN cũng như lần thứ 12 năm nay, để chọn lựa các nhân vật lãnh đạo có lợi cho họ. Nhưng âm mưu này đã và đang gặp phải sức đề kháng mạnh liệt của dân tộc Việt Nam.

Quan hệ Hoa Kỳ – Trung Quốc
 
Hiện Hoa Kỳ đang có nhiều điểm tranh chấp trầm trọng với Trung Quốc: về lãnh vực giao thương, với các nỗ lực tranh đoạt ưu thế bất chính của Trung Quốc trên thương trường, bất chấp các điều khoản của Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế, về lãnh vực bản quyền và kỹ thuật tiền tiến, với chủ trương tấn công qua mạng để chiếm đoạt (hacking) các dữ kiện mật về kỹ thuật quân sự, công nghệ cao, về Biển Đông, với nỗ lực chiếm đoạt các đảo, xây dựng căn cứ quân sự để khống chế vùng biển chiến lược này.

Theo Bộ Thương Mại Hoa Kỳ, các cạnh tranh bất chính, tấn công lấy cắp qua mạng Internet đã làm cho Hoa Kỳ mất 300 tỷ MK và hơn 1,2 triệu việc làm tại Hoa Kỳ. Hiện nay, người dân đang tiến hành việc tẩy chay hàng hóa Trung Quốc, nhiều hãng Hoa Kỳ đã rút ra khỏi Trung Quốc và chủ trương “Buy Made In America” đang thịnh hành.

Hoa Kỳ đã vận động sự hình thành một TPP rộng lớn trên toàn vùng Á Châu Thái Bình Dương nhằm cô lập Trung Quốc về mặt kinh tế. Trước các hành động xâm lược bất chấp Công Pháp Quốc Tế của Trung Quốc trên Biển Đông, Hoa Kỳ lúc đầu giữ thai độ trung lập, nay đã nghiêng dần về khuynh hướng đối đầu và hỗ trợ trực tiếp các đồng minh.

Sau khi chấm dứt tham gia bộ chiến tại Irak và A Phú Hãn, Hoa Kỳ đang dồn hải lực về vùng Tây Thái Bình Dương. Bộ Chỉ Huy Thái Bình Dương Hoa Kỳ (CinCPAC) gồm 300.000 người, trong đó Lục quân 80.000, Hải quân 140.000, Không quân 50.000, với 200 chiến hạm, tầu ngâm, và hơn 1.500 phi cơ chiến đấu, nhằm đối phó với sự bành trướng của Trung Quốc, trấn an các đồng minh như Nhật, Đài Loan, Phi, Úc.

Hiện nay, về số lượng hải quân Trung Quốc đã trở thành lực lượng thứ nhì thế giới với 300 tầu chiến hạm (53 tầu ngầm loại diesel, 3 tầu ngầm nguyên tử, 1 hàng không mẫu hạm, 21 khu trục hạm, 52 khu trục hạm hạng nhẹ, 57 tầu đổ bộ, khoảng 100 tầu nhỏ loại tuần duyên), trong lúc đó hải quân Nhật tuy ít hơn về số lượng nhưng rất hiện đại với 4 hàng không mẫu hạm chở trực thăng, 26 khu trục hạm, 11 khu trục hạm loại nhẹ, 16 tầu ngầm, 3 tầu đổ bộ và 41 tầu tuần duyên, huấn luyện.
Hải quân Trung Quốc hiện vẫn còn thua kém xa Hoa Kỳ.
Tuy nhiên nếu so sánh với Hoa Kỳ (gần 4 triệu tấn và 300 chiến hạm lớn), hải quân Trung Quốc (1,5 triệu tấn) hiện vẫn còn thua kém xa về số lượng trọng tải và hiệu năng chiến đấu, về phẩm chất, kỹ thuật chế tạo tầu chiến, tầu ngầm; mức độ đa năng và tầm sát hại rộng lớn của các hệ thống võ khí, tầm bao phủ xa cả ngàn cây số và chính xác của các hệ thống kiểm báo hỗn hợp (Aegis, vệ tinh, phi cơ Awacs, trực thăng, drone), hỏa lực của phi cơ trên các mẫu hạm, khả năng tác chiến tinh nhuệ rút từ kinh nghiệm trận địa hàng ngày trên khắp thế giới.

Nếu cộng thêm với hải quân Nhật Bản, Úc, Ấn Độ, hải quân Trung Quốc hoàn toàn ở thế yếu, không có khả năng để đương đầu với một tập hợp hải quân của siêu cường Hoa Kỳ và 3 quốc gia lớn trong vùng Á Châu Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Kết luận
 
Cái giá mà Trung Quốc phải trả cho việc chiếm được một số đảo trên Biển Đông và biến những đảo này thành cứ điểm quân sự trở thành quá cao: Trung Quốc bị cô lập trên trường quốc tế, hình ảnh Trỗi dậy trong Hòa Bình bị gẫy đổ, đầu tư vào Trung Quốc từ Hoa Kỳ, Nhật, Liên Âu bị suy giảm, hàng hóa bị tẩy chay, khiến mức phát triển kinh tế giảm gần 10% xuống dưới 7% và sẽ còn tiếp tục suy giảm (mức độ suy giảm kinh tế trong thực tế có lẽ còn trầm trọng hơn nhiều so với các con số chính thức được công bố).

Chiến lược xâm lược một cách yên lặng của Trung Quốc thất bại. Bộ mặt bán nước, độc tài, tham ô, bạo tàn, của lãnh đạo đảng CSVN đã lộ rõ. Trong năm 2016, Tòa Trọng Tài Thường Trực sẽ phán quyết bác bỏ Đường Lưỡi Bò 9 điểm của Trung Quốc, các quốc gia ASEAN sẽ hợp lực để đầy lùi các tham vọng đế quốc của Trung Quốc, với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, Nhật Bản.

Người dân và các lực lượng dân tộc dân chủ sẽ khai thác vấn đề Biển Đông và bảo vệ chủ quyền nhằm tạo thế đoàn kết rộng lớn để đầy lùi chế độ CSVN.

Nguyễn Ngọc Bảo




Thứ Bảy, 19 tháng 12, 2015

Thách đố về định chế của Trung Quốc


Andrew Sheng & Xiao Geng - Project Syndicate
17/12/2015


Ông Douglass North, người từng đoạt giải Nobel kinh tế, vừa mới qua đời tháng rồi. Ông áp dụng lý thuyết kinh tế vào lịch sử để thấu hiểu những thay đổi xã hội và định chế. Tuy qua đời nhưng ý tưởng của ông vẫn còn tồn tại, đặc biệt là tại Trung Quốc. Tuy ông North không tập trung thẳng vào sự phát triển định chế của Trung Quốc, khung sườn lý thuyết của ông có thể rất hữu ích cho giới lãnh đạo trong lúc họ định hướng cho giai đoạn thay đổi định chế sắp đến.

Trong bài phát biểu nhận giải Nobel năm 1993, ông North đưa ra ba bài học mà giới làm chính sách có thể rút tĩa từ nghiên cứu của ông. Thứ nhất, hiệu suất kinh tế được định đoạt bởi sự phối hợp của “các quy luật chính thức, các quy tắc không chính thức, và các đặc tính ép buộc”. Thứ nhì, chính thể có tác động lớn vào hiệu suất kinh tế, bởi vì chúng “xác định và thực thi quy luật kinh tế.” Và, điều chót, năng suất thích nghi (luật lệ thay đổi thế nào), chứ không phải năng suất chỉ định (quy luật hiệu năng nhất hiện thời) là chìa khóa cho tăng trưởng lâu dài.

Những bài học này phản ánh trong đánh giá của ông North về sự phát triển kinh tế và định chế Tây Âu, mà ông giải thích cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ nhờ vào hai yếu tố chính: các hệ tư tưởng khác biệt và cạnh tranh khốc liệt giữa và ngay trong các quyền lực trổi dậy. Anh Quốc và Hòa Lan lập ra các đơn vị kinh tế/chính trị đa dạng mà chúng tiến hóa thành các định chế nuôi dưỡng chuyên biệt hóa và phân công lao động. Những định chế này cho ra kết quả kinh tế và chính trị rất tốt nhờ giá giao dịch thấp, quyền tài sản rõ ràng và có luật pháp bảo vệ, và những quy luật và quy tắc chia sẻ.

Ông North quan sát thấy rằng thay đổi định chế rất khó, vì nó đòi hỏi phải vượt qua chẳng những các nhóm lợi ích, mà còn các hệ tư tưởng và mô hình suy nghĩ lỗi thời. Bước đột phá xảy ra khi các định chế vươn ra bên ngoài các giao dịch địa phương để cho phép trao đổi ẩn danh và khách quan vượt thời gian và không gian. Các định chế bền vững là những nhóm biết học hỏi và thích nghi, vượt qua chính thành kiến và giới hạn của họ.

Công trình nghiên cứu của North thành công trong việc giải thích những thay đổi sâu sắc về kinh tế và định chế tại Trung Quốc trong ba thập niên vừa qua, cũng như soi sáng những thách đố gặp phải trong thập niên kế. Thật vậy, điều này làm nhẹ đi sự bi quan bao trùm những tranh luận hiện thời về viễn ảnh tương lai của Trung Quốc.

Trước nhất, sự cạnh tranh khốc liệt vẫn vững mạnh tại Trung Quốc. Các thành phố lớn (kể cả Thượng Hải, Quảng Đông, Thiên Tân, Xiamen) vẫn cạnh tranh mãnh liệt với nhau, và một loại công ty mới đầy sáng tạo về công nghệ (như Huawei, Tencent, và Alibaba) đang tranh nhau để mở thị trường mới về sản phẩm, dịch vụ, tài năng, vốn và kiến thức.

Đảng Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) dồn nỗ lực để đẩy một nền kinh tế nghiêng về dịch vụ, hiệu năng hơn, theo quy luật của thị trường và pháp quyền. Chẳng hạn như, họ giảm đòi hỏi vào thị trường cho giới đầu tư nội địa và ngoại quốc. Họ đồng thời củng cố quyền tư hữu về đất đai, lao động, vốn, và kiến thức; điều này cùng với những tiến triển về công nghệ số và rô-bốt, đã kéo phí tổn giao dịch xuống.

Hơn thế nữa, sau khi đã xây hạ tầng cơ sở vật chất cần thiết trong thập niên vừa qua (có lẽ đến độ dư thừa), Trung Quốc hiện nay đang nhấn mạnh vào hạ tầng cơ sở phần mềm cần thiết để giữ vững sự tăng trưởng của ngành dịch vụ đang nảy nở. Trong năm 2014, ngành dịch vụ chiếm hơn 50% của GDP, hơn cả ngành sản suất và nguyên liệu cơ bản gộp lại.

Tuy chính quyền chưa tiến hành cải tổ thích đáng các xí nghiệp quốc doanh, họ đã chủ trương để cho các đại công ty công nghiệp phần lớn của tư nhân làm chủ cạnh tranh với các ngân hàng và định chế tài chính quốc doanh. Và không ai có thể đoán được cường độ của chiến dịch bài trừ tham nhũng, kể cả trong quân đội, ngành tài chính, và thượng tầng của ngay chính đảng CSTQ.

Sự chuyển hướng về thị trường của Trung Quốc sẽ được củng cố thêm qua cam kết của giới lãnh đạo với Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) khi đồng nhân dân tệ được thêm vào giỏ tiền tệ để xác định giá trị đơn vị tài khoản của IMF, gọi là Quyền Rút Vốn Đặc Biệt. Nhu cầu đối phó với áp lực giao thương sau khi Hiệp Ước Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương bao gồm gần hết các láng giềng của Trung Quốc sẽ có một tác dụng kỷ luật tương tự.

Đảng CSTQ không tự đánh giá họ với tiêu chuẩn điều hành quốc gia của các quốc gia tự do dân chủ Tây Phương, nhưng so với truyền thống pháp lý Trung Quốc cổ xưa của một chính quyền trung ương mạnh giữ tính chính danh bằng cách duy trì tiêu chuẩn trách nhiệm. Có lẽ quan trọng hơn nữa, họ dựa vào các trí thức và nhà làm chính sách dày dặn - chứ không phải lý thuyết gia Đảng - để thiết kế lộ đồ phát triển.

Phương hướng này được củng cố vào hè năm ngoái, khi mặc dầu có rối loạn thị trường, đảng CSTQ vẫn giữ cam kết để thị trường đóng “vai trò quyết định trong việc phân bố tài nguyên”. Không có chỉ dấu gì rõ ràng hơn là Trung Quốc sẵn sàng cập nhật hệ tư tưởng và mô hình suy nghĩ để đạt được mức lợi tức cao hơn.

Tuy thế, vẫn còn nhiều khó khăn để vượt qua, nhất là trong vấn đề năng suất thích nghi. Về điểm này, lưu ý là trong khi quy luật chính thức có thể sửa đổi lẹ làng, các quy tắc văn hóa không chính thức khó thay đổi trong ngắn hạn. Quy luật chính thức mới có thể choảng với những quy tắc đã thành hình, khiến động cơ công chức bị méo mó, gây tác hại nặng lên trên cách ứng xử và hiệu suất của định chế.
Giới lãnh đạo Trung Quốc phải đối diện với sự không đối xứng giữa những gì họ có thể làm được và những gì giới tiêu thụ đòi hỏi. Theo ông North, năng suất thấp của định chế là một vấn đề phân bố ngắn hạn, mà nhà nước có thể bù đắp với năng suất thích nghi lớn hơn, hoặc cơ chế tốt hơn để dẹp những định chế không hữu hiệu.

Di sản lý thuyết của ông North có thể quan trọng đối với giới lập chính sách Trung Quốc trong những năm tới, vì chúng giúp họ những hướng dẫn cụ thể để vượt qua những thay đổi nhanh chóng về định chế. Nếu không thế thì phải tiếp tục dựa vào điều mà Đặng Tiểu Bình, cha đẻ của đột phá định chế cách đây hơn ba thập niên, gọi là “mò mẫm đá dò đường”. Điều đó không phải là cách hữu hiệu nhất để vượt khó.

Hoàng Thuyên lược dịch

Nguồn: Project Syndicate

Theo Chân Trời Mới Media