Hiển thị các bài đăng có nhãn tranh chấp biển đông. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tranh chấp biển đông. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2016

Gia tăng lực lượng quân sự tại Biển Đông giúp Bắc Kinh nắm quyền kiểm soát

Michael Forsythe và Jane Perlez - The New York Times

Quân Đội Trung Quốc tuần tra trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Ảnh chụp hồi Tháng Giêng, 2016. Nguồn ảnh: Reuters

Khi hàng không mẫu hạm John C. Stennis và bốn chiến hạm khác của Hoa Kỳ tiến vào vùng Biển Đông hồi tuần rồi theo dự định thao dượt thường nhật, thông điệp gửi ra rất rõ: Hoa Kỳ là lực lượng quân sự nổi trội trong vùng và dự tính giữ nguyên trạng. Nhưng số lượng chiến hạm Trung Quốc bám sát tàu chiến Hoa Kỳ đông hơn năm ngoái. Viên chức Trung Quốc nói với truyền thông nhà nước là các chiến hạm có mặt đó để “theo dõi, nhận diện, bám sát và đẩy lui” các chiến hạm và máy bay nước ngoài, tùy theo chúng đến sát cạnh “đảo của chúng ta” như thế nào. Cuộc chạm trán không gây ra sự cố này, là vụ đụng đầu mới nhất giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc vì Hoàng Sa và Trường Sa.


Kể từ khi nắm quyền cách đây ba năm về trước, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã dùng các đảo này để bành trướng sự hiện diện của quân đội Trung Quốc trong vùng, từng bước một dựng lên và trang bị các căn cứ xa cách đất liền, bất chấp sự phản đối của các nước láng giềng và Washington.

Tầm vóc của nỗ lực tốn kém hàng tỉ đô la này đã gây căng thẳng trong vùng và củng cố các tuyên nhận chủ quyền của Trung Quốc trên trọn Biển Đông, nơi có một số tuyến đường giao thương nhộn nhịp nhất thế giới. Việc gia tăng quân sự cũng thách thức nguyên trạng quân sự trong vùng Tây Thái Bình Dương từ sau thế chiến thứ hai, giúp Trung Quốc thực hiện được mục tiêu thiết lập vùng trái độn an ninh cách xa bờ biển – một giấc mơ của các chiến lược gia Trung Quốc từ thời chiến tranh Hàn Quốc.

“Trung Quốc muốn một bể nước,” theo lời của ông Marc Lanteigne, một nghiên cứu gia của Viện Ngoại Giao Quốc Tế của Na Uy, chuyên chú về chính sách ngoại giao của Trung Quốc, so sánh thế mạnh của Hoa Kỳ trong vùng biển Caribbean. “Trung Quốc muốn có vùng biển của họ, để họ có các hoạt động quân sự và cảnh sát mà không phải lo lắng về sự có mặt của các lực lượng hải quân Hoa Kỳ, Phi, Việt Nam hay Ấn Độ.”

Việc gia tăng quân sự tiến hành từng bước một nhưng khá là nhanh chóng nếu xét đến tình huống giằng co giữa Trung Quốc và các nước láng giềng trong nhiều thập niên qua. Vét cát để xây các đảo nhân tạo bên trên các bãi đá san hô trong vùng Trường Sa bắt đầu vào đầu năm 2014 nhưng tăng tốc độ hồi năm ngoái, và các đảo này bây giờ có cảng nước sâu và đường phi đạo dài thích hợp cho các tàu chiến và chiến đấu cơ.

Rồi tiếp đó các giàn phóng hỏa tiễn phòng không xuất hiện tại Hoàng Sa. Ảnh vệ tinh hiện nay cho thấy dường như có các giàn rađa mạnh, có tiềm năng nới rộng vùng sát thủ của loại hỏa tiễn đặt trên lục địa Trung Quốc nhằm triệt hạ hàng không mẫu hạm.

Các công sự này không phải là mối đe dọa đối với quân đội Hoa Kỳ, vì có thể bị tiêu hủy dễ dàng nếu xảy ra đụng độ.

Nhưng viên chức Hoa Kỳ ngày càng lo âu là việc gia tăng quân sự, nếu không cản lại, sẽ giúp Trung Quốc kiểm soát một vùng biển rộng lớn và có ưu thế quân sự vượt trội so với các quốc gia láng giềng đang tranh chấp biển đảo. Điều đó thúc đẩy một cuộc chạy đua vũ trang trong vùng và gia tăng rủi ro xung đột.
Ảnh vệ tinh cho thấy các đảo nhân tạo do Trung Quốc xây dựng trong vùng biển tranh chấp tại Biển Đông, phía tây Palawan, Philippines năm 2015. Ảnh: Ritchie B. Tongo


Mặc dầu giới chức Washington nói rằng Trung Quốc chưa thể có khả năng để đẩy lui quân đội Hoa Kỳ ra khỏi Biển Đông, các phân tích gia cho rằng việc gia tăng quân sự sẽ gây khó khăn cho Hải Quân Hoa Kỳ nhanh chóng bảo vệ đồng minh với quân đội yếu hơn như Phi chẳng hạn. Việc triển khai chiến đấu cơ, hỏa tiễn chống phi cơ và rađa mạnh đặc biệt có thể làm Hải Quân Trung Quốc bạo hơn trong khi làm Hoa Kỳ khựng lại.

Khi điều trần trước Ủy Ban Quân Đội của Thượng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ, Đề đốc Harry B. Harris Jr, tư lệnh Bộ Chỉ Huy Thái Bình Dương cảnh bảo rằng các hành vi của Trung Quốc đang làm “thay đổi tình cảnh hoạt động trong vùng Biển Đông.”

Một viên chức tình báo cao cấp của chính quyền Obama, ông James R. Clapper cho biết vào đầu năm tới Trung Quốc “sẽ có nhiều khả năng để biểu dương sức mạnh quân sự trong vùng.” Mặc dầu Trung Quốc chưa xây cất xong, họ có thể triển khai chiến đấu cơ, hỏa tiễn phòng không, hỏa tiễn phòng thủ bờ biển cũng như các chiến hạm lớn và các tàu tuần tra cảnh sát biển đến các đảo nhân tạo của Trường Sa.

Ông Clapper cũng xác nhận là giàn rađa quân sự được gắn trên Đá Châu Viên (Cuarteron Reef) cách đảo Hải Nam 600 dậm, đây là đảo cực nam trong nhóm 7 đảo nhân tạo. Trên lý thuyết giàn rađa này có thể giúp tăng khả năng của loại hoả tiễn diệt hàng không mẫu hạm, DF-21D, tấn công mục tiêu xa hơn và gây khó khăn cho Hải Quân Hoa Kỳ có biện pháp đối phó.

Hồi tháng rồi, Việt Nam phản đối chính thức sau khi ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc đã đặt các giàn hỏa tiễn phòng không HQ-9 trên đảo Phú Lâm (Woody Island). Việt Nam tuyên nhận chủ quyền của cả Hoàng Sa và Trường Sa, và tinh thần chống Trung Quốc dâng cao kể từ khi Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển gần Hoàng Sa.
Tổng thống Obama (trái) cùng Chủ tịch Tập Cận Bình trước Nhà Trắng vào Tháng 9, 2015 khi họ Tập đến Hoa Kỳ. Ảnh: Doug Mills/The New York Times
Việc gia tăng quân sự trong vùng Trường Sa cũng khiến cho Phi Luật Tân giận dữ. Trung Quốc đoạt lấy đảo Scarborough từ tay Phi cách đây bốn năm, một hành động khiến Tổng thống Benigno S. Aquino III của Phi sau đó ví như hành động chiếm đóng Tiệp của Phát-xít Đức.

Thượng nghị sĩ John McCain, chủ tịch Ủy Ban Quân Đội của Thương Viện, gần đây lên tiếng cảnh báo rằng Trung Quốc dường như sắp muốn đẩy lui Phi ra khỏi một đảo khác và khẩn cầu chính quyền Obama lên tiếng về cách phản ứng. Hồi tháng rồi, các tàu bè Trung Quốc bị phản đối khi ngăn chận không cho tàu đánh cá Phi vào một đảo san hô trong vòng tranh chấp.

Các phân tích gia nhận định rằng việc gia tăng quân sự đã tạo dễ dàng cho các tàu Trung Quốc hoạt động một thời gian lâu tại Trường Sa mà không cần quay trở lại đất liền. Các giàn rađa mới gắn trên Đá Châu Viên (Cuarteron Reef) giúp cho Trung Quốc khả năng nhìn xa ngoài chân trời và có thể theo dõi các mục tiêu ở thật xa như eo biển Malacca hàng trăm dậm về phía tây nam.

Trong buổi họp thượng đỉnh với Tổng thống Obama vào tháng Chín, họ Tập hứa là sẽ không “đeo đuổi quân sự hóa” vùng Trường Sa, nhưng không đá động gì đến Hoàng Sa, và Bắc Kinh từ đó khẳng định là họ có quyền có “các căn cứ phòng thủ giới hạn” trong vùng Biển Đông, và so sánh với việc Hoa Kỳ có căn cứ tại Hawaii.

Các phân tích gia Trung Quốc lập luận rằng việc gia tăng quân sự gìn giữ hòa bình bằng cách ngăn cản các quốc gia tranh chấp, kể cả Brunei, Indonesia, Mã Lai và Đài Loan. Theo Xu Liping, một nhà nghiên cứu tại Học Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc, “Lý do chánh của việc xây cất là để nói với các nước khác hãy ngưng các hành động khiêu khích, bởi vì nếu họ tiếp tục lấn tới, chúng tôi có khả năng phản công.”

Giới chức Hoa Kỳ cho biết Trung Quốc sẽ xây các bồn trữ nhiên liệu lớn trên đảo, giúp cho các chiến đấu cơ lưu lại trong vùng lâu hơn, rồi sau đó tuyên bố “vùng nhận diện phòng không” trên Biển Đông như họ đã từng làm trong vùng biển Đông Hải hồi cuối năm 2013.

Trung Quốc tự cho quyền yêu cầu máy bay ngang qua vùng phải thông báo và sẽ có hành động quân sự đối với ai không tuân lệnh. Nhật và Hoa Kỳ khước từ không nhìn nhận quyền này cũng như không hợp tác.

Chính quyền Obama tuy nhiên đã vất vả để có được một chính sách làm chậm lại hoặc ngăn chận việc quân sự hóa của Trung Quốc trên Biển Đông. Một viên chức quốc phòng, xin ẩn danh, lưu ý là tuy Trung Quốc có thể giành được vùng biển, hành vi của họ cũng đã khiến các nước láng giềng như Phi và Việt Nam nới rộng quan hệ quân sự với Hoa Kỳ.

Trong những tháng gần đây, Hoa Kỳ gia tăng các cuộc tuần tra “tự do hải hành” trong vùng Biển Đông, gửi tàu chiến và máy bay Hoa Kỳ vào vùng mà Trung Quốc tuyên nhận chủ quyền để khẳng định quan điểm của Hoa Kỳ rằng đây vẫn là vùng hải phận và không phận quốc tế.
Nhưng Trung Quốc phản ứng bằng trưng dẫn các cuộc tuần tra này để cho rằng chính Hoa Kỳ mới quân sự hóa Biển Đông – do đó Trung Quốc tiếp tục xây cất.
 
Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Wang Yi tại cuộc họp báo hôm 8 Tháng 3, 2016. Ảnh: Reuters
Wang Yi, bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc tuyên bố trong một cuộc họp báo, “Trung Quốc là nước đầu tiên khám phá ra, đặt tên, phát triển và quản trị các đảo trong vùng Biển Đông. Lịch sử sẽ chứng minh ai là khách và ai là chủ nhân thật sự.”

Hoàng Thuyên lược dịch
Theo The New York Times – 8/3/2016

Nguồn: Chân Trời Mới Media


Thứ Năm, 18 tháng 2, 2016

Thời điểm nguy cấp cho Washington và Bắc Kinh tại Biển Đông

Dan De Luc, Keith Johnson - Foreign Policy

Các giàn phóng hỏa tiễn phòng không loại HQ-9 của Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc trong buổi diễu hành tại Quảng trường Thiên An Môn, Bắc Kinh ngày 3 tháng Chín, 2015 nhân kỷ niệm 70 năm sau chiến thắng kết thúc Thế Chiến Thứ Hai. (Ảnh: Greg Baker/AFP/Getty Images)

Khi đưa hỏa tiễn phòng không vào vùng đảo tranh chấp tại Biển Đông trong tháng này, Bắc Kinh đã làm tình hình nóng hơn trong việc đối đầu với Hoa Kỳ và với phán quyết của Tòa Án Trọng Tài Quốc Tế sắp tới đây sẽ làm tình hình căng thẳng hơn nữa.

Các chiến thuật cứng rắn của Trung Quốc buộc Hoa Kỳ phải quyết định có nên lấy phản ứng mạnh hơn – ngay cả nếu có nguy cơ đụng độ quân sự – hay ngồi yên đó để Bắc Kinh tiếp tục tháo gỡ một trật tự thế giới đã giữ được 70 năm hòa bình và trù phú tại Châu Á.

Sắp tới đây Tòa án Trọng tài Quốc tế tại The Hague sẽ ra phán quyết lần đầu tiên về tính pháp lý của các tuyên nhận chủ quyền của Trung Quốc, mà thường được biết qua bản đồ chín vạch chiếm gần hết Biển Đông. Với việc đưa các hỏa tiễn phòng không tầm dài đến đảo Woody chỉ làm tăng thêm tầm quan trọng của phán quyết sắp tới.

Các chuyên gia nghĩ rằng phán quyết của tòa nghiêng về phía Phi Luật Tân, bên đưa đơn kiện năm 2013. Điều này sẽ buộc cả Washington và Bắc Kinh lấy chọn lựa: Hoa Kỳ sẽ phải quyết định là có nên và ở mức độ nào để tuân thủ phán quyết đó dùng lực lượng Hải quân Hoa Kỳ. Và Trung Quốc, vốn dĩ từ chối không tham gia vụ kiện, sẽ gặp một thử thách về điều mà họ tự cam kết là sẽ tuân theo luật lệ quốc tế.

Phán quyết của tòa án sẽ đánh dấu một bước ngoặt khác trong việc tranh chấp trên Biển Đông. Một cựu viên chức của chính quyền Obama xin giấu tên đưa nhận định là “phán quyết đó sẽ bác bỏ tất cả thẩm quyền pháp lý và tinh thần của Trung Quốc hoặc sẽ không có tác dụng gì. Nếu tòa phán quyết là đường chín vạch vô nghĩa, thì áp suất sẽ đè lên phía Trung Quốc phải có phản ứng nào đó.”

Hình vệ tinh trên đảo Phú Lâm hôm 3 Tháng 2 (trái) và hôm 14 Tháng 2 (phải). Nguồn ảnh: ImageSat International
 Trong tuần này, ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc đã đưa hệ thống hỏa tiễn phòng không đến đảo Phú Lâm (Woody Island), trong vùng quần đảo Hoàng Sa. Giới phân tích quốc phòng đánh giá rằng việc đặt hỏa tiễn này là “một leo thang quân sự đáng kể” và là cú phản công lại đối với hai chuyến công tác tự do hải hành của Hoa Kỳ vào năm ngoái và đầu năm nay.
Một số chuyên gia đánh giá việc bố trí hỏa tiễn này là một khuôn mẫu của việc quân sự hóa trong tương lai trên các vùng đảo tranh chấp khác tại Trường Sa.

Bước cờ mới của Trung Quốc đã khiến giới hành pháp Hoa Kỳ giận dữ và kêu gọi Hoa Kỳ phải có phản ứng mạnh hơn. Thượng nghị sĩ John McCain, Chủ tịch Ủy Ban Quân Đội của Thượng Viện Hoa Kỳ tuyên bố là các công tác tự do hải hành không đủ, Hoa Kỳ phải có những hành động khác để buộc Trung Quốc phải trả giá cho hành xử của họ.

Bắc Kinh bố trí hệ thống hỏa tiễn này ngay trong thời điểm Tổng thống Obama chủ tọa buổi họp với 10 thành viên ASEAN. Trong buổi họp Thượng đỉnh vấn đề Biển Đông chiếm phần lớn các trao đổi. Tuy không nêu đích danh Trung Quốc, bản tuyên bố chung vào cuối Hội nghị kêu gọi tôn trọng trật tự luật lệ quốc tế, tránh quân sự hóa vùng tranh chấp; tôn trọng tự do hải hành.

Ai là đồng minh?

Cho đến nay các tuyên nhận chủ quyền và các hoạt động bồi đắp đảo của Trung Quốc đã đẩy các quốc gia Châu Á đến gần Hoa Kỳ hơn. Tokyo và Washington duyệt lại đường lối quốc phòng chung, và Nhật Bản đã vất lập trường chủ trương hòa bình sang một bên. Phi Luật Tân thì mời Hoa Kỳ trở lại sau 25 năm đuổi đi. Ngay cả Việt Nam, một quốc gia cộng sản với mối quan hệ giao thương chặt chẽ với Trung Quốc, cũng nhích lại gần với Washington và ngõ ý muốn mua vũ khí Hoa Kỳ để phòng chống lại Trung Quốc.

Trớ trêu thay, một đồng minh của Hoa Kỳ trong vùng lại khiến cho phản ứng của Washington rắc rối hơn.

Đài Loan, một đồng minh cốt cán từng mua hàng tỉ Mỹ kim vũ khí quốc phòng của Hoa Kỳ, lại có vẻ như sát cánh với Trung Quốc trong việc tranh chấp. Tổng thống Mã Anh Cữu đến thăm viếng đảo Taiping hồi tháng rồi, bất chấp những phản đối của Hoa Kỳ. Khi nhấn mạnh Taiping là một hòn đảo chứ không phải đá như Phi Luật Tân gọi như thế, Đài Loan làm cho hồ sơ vụ kiện của Phi Luật Tân yếu đi, và cung cấp lý do để Trung Quốc tranh cãi. Tuy nhiên Trung Quốc cũng chẳng sốt sắng với động thái của Đài Loan vì làm thế lại nhìn nhận Đài Loan là một đất nước có chủ quyền riêng.

Giới chức Hoa Kỳ nghĩ là Đài Loan tuyên bố như thế trước khi có phán quyết của tòa chỉ để muốn nhấn mạnh đến những tuyên nhận chủ quyền của họ trong vùng tranh chấp.

Những đòn phản công

Trọng tâm của vụ kiện của Phi Luật Tân là cho rằng các địa dư trong vùng tranh chấp là đá chứ không phải đảo. Thoạt nghe có vẻ không gì khác lắm nhưng có sự phân biệt quan trọng: Theo luật pháp quốc tế, đảo thì có được vùng đặc quyền kinh tế nới dài ra 200 dậm; đá thì không được. Và đá ngầm dưới mặt nước khi thủy triều lên không được quyền có hải phận.

Tuy nhiên Tòa Án Trọng Tài Quốc Tế không có quyền thực hiện án lệnh. Và Trung Quốc đã tuyên bố từ đầu là họ không tuân theo phán quyết. Các chuyên gia cho rằng như thế thì chỉ còn có Hoa Kỳ mới có khả năng để thực hiện làm cho phán quyết có giá trị. Chẳng hạn như có chuyến tự do hải hành đi ngang những địa dư không được xem là đảo chẳng hạn.

Phiên điều trần tại Tòa Án Liên Hiệp Quốc trong vụ kiện Trung Quốc của Phi Luật Tân.
Phán Quyết của Tòa The Hague đòi hỏi chính quyền Obama quyết định xem có nên tái xác nhận thẩm quyền của tòa án với các cuộc tuần tra.

Các nhà phân tích và cựu viên chức Hoa Kỳ cho biết là Bộ Ngoại Giao sẽ khởi động một chiến dịch ngoại giao sau khi có phán quyết để xiển dương đây như là một quyết định hệ trọng nêu gương về cách giải quyết tranh chấp một cách ôn hòa.


Phán quyết bất lợi cho Trung Quốc đến từ một tòa án được trọng vọng như tòa The Hague sẽ là một sự xấu hổ chính trị cho một quốc gia tự cho mình là tác nhân có trách nhiệm trên diễn đàn thế giới. Nhưng Bắc Kinh cũng có thể quyết định lờ đi, dựa trên suy tính là Washington và các quốc gia Châu Á không dám liều lĩnh đụng độ quân sự hoặc trả đũa kinh tế.

Và dẫu phán quyết như thế nào đi nữa, chẳng ai dám bảo là Bắc Kinh sẽ từ bỏ những tuyên nhận chủ quyền hoặc sẽ tháo gỡ các công việc bồi đắp đảo đã làm. Đối với Washington, kết quả tốt nhất có lẽ là Trung Quốc lặng lẽ ngưng các hoạt động quân sự hóa, hoặc có động thái hòa hoãn cho phép ngư phủ Phi Luật Tân đánh cá trong vùng biển tranh chấp.

Nhưng ngay cả khi Hoa Kỳ phản công toàn diện, bằng cách gia tăng tuần tra, gia tăng hợp tác quân sự với các đối tác và đồng minh tại Châu Á, và củng cố tầm với kinh tế qua hiệp ước TPP, có lẻ quá trễ để đẩy lui cơn thủy triều Trung Quốc. Bắc Kinh có vẻ có ý định xác quyết những quyền lợi quan trọng không chối cãi trong vùng Tây Thái Bình Dương, dầu có làm cho quan hệ với Washington xấu đi.

Chân Trời Mới Media - Hoàng Thuyên lược dịch


Nguồn: Foreign Policy

Chủ Nhật, 14 tháng 2, 2016

80 phần trăm của con số không: những tuyên nhận ảo của Trung Quốc trên Biển Đông

Steven Stashwick - The Diplomat


Thi sĩ người Pháp Baudelaire từng nói rằng đòn ma mãnh nhất của quỹ vương là làm chúng ta tin rằng hắn không hiện hữu. Đòn ma mãnh nhất của Trung Quốc có thể là làm chúng ta tin rằng những tuyên nhận của họ trên Biển Đông là thật. Những phát biểu chính thức về “chủ quyền không thể chối cãi trên Biển Đông” nghe như lập trường chắc nịch của Trung Quốc. Và việc Trung Quốc chiếm đóng nhiều hòn đảo trong vùng, cảnh sát biển rượt đuổi các tàu đánh cá nước ngoài, và các công trình bồi đắp đảo quy mô cho thấy sự hiện diện thường trực trong vùng. 

Nhưng với ngoại lệ của đảo Hoàng Sa giữa đảo Hải Nam và Việt Nam, Trung Quốc chưa từng có những tuyên nhận pháp lý hợp lệ trên Biển Đông. Thay vào đó sự mập mờ của Trung Quốc được sắp xếp để truyền thông quốc tế đưa tin tạo ấn tượng các tuyên nhận chủ quyền nhiều hơn là họ có. Lối nói thường được nhắc đến (như cái gọi là “sự kiện” Trung Quốc tuyên nhận 80 phần trăm Biển Đông) giúp Trung Quốc chính danh hóa những hoạt động lấn lướt trong vùng mà không phải mở rộng tư thế pháp lý của họ. Không có những thế pháp lý chính thức đó, Trung Quốc cho đến nay đã khéo léo tránh bị đẩy vào thế kẹt chiến lược trong vùng Biển Đông mà không cần phải dùng đến quân sự để bảo vệ các tuyên nhận mà họ chưa từng thực sự làm.

Tác giả bài viết cho rằng Trung Quốc mập mờ trong việc sắp xếp để truyền thông quốc tế đưa tin tạo ấn tượng các tuyên nhận chủ quyền nhiều hơn là họ có.
Nhưng giới hạn của chiến lược này đã biểu lộ. Việc đưa tin đặc biệt trước chuyến công tác tự do hải hành của chiến hạm USS Lassen xuyên qua vùng đảo Trường Sa hồi tháng Mười năm ngoái khiến người ta chú ý nhiều đến các vấn đề chiến lược, pháp lý, lãnh hải tại Biển Đông. Áp lực công luận đó đã gây khó khăn cho Trung Quốc phản ứng một cách quân bằng giữa tư thế pháp lý và nhu cầu giữ ấn tượng tốt trên toàn cầu và thỏa mãn những mong đợi từ giới dân tộc chủ nghĩa trong nước. Tuy các phát biểu vẫn có vẻ kiên định, Trung Quốc rõ ràng không muốn cơ nguy đối đầu với quân đội Hoa Kỳ, dầu ở cấp thấp, vì những tuyên nhận trên Biển Đông.
Sau chuyến công tác của chiến hạm Lassen, tin tức bình luận trái ngược nhau về chuyến đi này là hình thức qua lại không gây hại cho đến những phân tích dựa vào các dữ kiện địa dư sai trật. Dầu sao đi nữa, người ta đồng ý là chuyến đi của Lassen quả thật là một “thách thức đối với các tuyên nhận chủ quyền của Trung Quốc” vì Trung Quốc “tuyên nhận gần toàn bộ Biển Đông” là chủ quyền của họ.
Nhưng, theo đúng nguyên tắc, thì không phải vậy.
Tin tức về vùng này thường đưa thông tin rằng Trung Quốc “tuyên nhận 80 phần trăm Biển Đông”, một “sự kiện” mà chính quyền Trung Quốc chắc chắn là hoan nghênh và không cần làm gì để phản bác nó. Tin tức về chuyến đi tự do hải hành của chiến hạm Lassen cũng thường nhắc đến phạm vi 12 hải lý quanh các đảo Trường Sa. Khi hai ý niệm trên đi chung với nhau trong tin tức tường thuật, rõ ràng là có vấn đề với lối nhìn này. Để Trung Quốc tuyên nhận 80 phần trăm Biển Đông, họ cũng phải tuyên nhận hầu hết vùng biển vượt xa phạm vi 12 hải lý của các đảo.
Vậy các tuyên nhận chủ quyền của Trung Quốc là gì? Trái ngược với ấn tượng trên truyền thông, Trung Quốc chưa có tuyên nhận những gì gần với ấn tượng đó. Một số bình luận gia lưu ý là có nhiều mơ hồ về các tuyên nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông vì Trung Quốc chưa chính thức hóa hoặc làm sáng tỏ các tuyên nhận đó. Điều khoản 16 của Luật Biển của Liên Hiệp Quốc đòi hỏi các quốc gia phải công bố các tuyên nhận chủ quyền lãnh hải và đường cơ sở (lằn ranh mà các tuyên nhận lãnh hải được đo lường) và cung cấp cho Liên Hiệp Quốc hoặc trên “bản đồ … đủ để khẳng định vị trí của chúng” hoặc trong một “danh sách tọa độ địa dư”. Nhưng dầu với nhiều tranh cãi như thế, các dữ kiện mà Trung Quốc nộp cho Liên Hiệp Quốc không có những tuyên nhận rõ ràng.

Dữ kiện tọa độ của đảo Senkaku là một trong hai nhóm đảo được Trung Quốc cung cấp cho Liên Hiệp Quốc vào năm 1996.
Trong bản tuyên bố lãnh hải năm 1958, Trung Quốc tuyên nhận đường cơ sở quanh Trường Sa và các đảo khác, nhưng không nhận dạng phạm vi nới rộng của các đảo đó hoặc cung cấp tọa độ địa dư của đường cơ sở. Thiếu vắng dữ kiện cụ thể cho các giới đi biển, vẽ bản đồ, luật sư để làm việc có nghĩa là trên thực tế, các đường cơ sở của Trung Quốc và lãnh hải chỉ hiện hữu đến phạm vi nào mà các bên tôn trọng. Để cho người khác ước đoán các điều này không phải là một nền tảng pháp lý vững chắc. Đến năm 1996 Trung Quốc rốt cuộc cung cấp cho Liên Hiệp Quốc toạ độ của các đường cơ sở. Dữ kiện bao gồm tọa độ của quần đảo Hoàng Sa, đảo Điếu Ngư (Senkaku/Diaoyu) ở Đông Hải. Nhưng lần đệ nạp cho Liên Hiệp Quốc năm 1996 không có dữ kiện gì cho quần đảo Trường Sa hay các nhóm đảo nào khác tại Biển Đông.
Thay vì tuyên nhận chủ quyền trên Biển Đông trên phương diện pháp lý, Trung Quốc tìm cách xây dựng tư thế trên thực tế bằng cách xây đảo và dùng cảnh sát biển để thuyết phục người khác nhìn nhận quyền kiểm soát của Trung Quốc trên thực tế chứ không trên pháp lý. Có lẽ không chắc là họ có thể kiểm soát được bao nhiêu cho nên Trung Quốc đã chọn không nêu rõ rệt lằn ranh chủ quyền dùng pháp lý. Thay vào đó họ dùng quan hệ công chúng để giới truyền thông vô hình chung toa rập trong việc bình thường hóa vùng kiểm soát của Trung Quốc trên toàn Biển Đông bằng cách lập đi lập lại những tuyên nhận chủ quyền không chính thức.

Theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thì bản đồ 9 vạch này thiếu nền tảng địa lý, pháp lý và lịch sử để cấu thành một tuyên nhận chủ quyền lãnh hải.

Đường Chín Vạch được biết đến (đôi khi xuất hiện với mười hay mười một vạch) có lẽ là thành công nhất của Trung Quốc về mặt thông tin chiến lược mà giới truyền thông đưa tin. Đường này xuất hiện chính thức trong một ghi chú nộp cho Liên Hiệp Quốc bày tỏ sự phản đối của Trung Quốc về tuyên nhận chủ quyền chung giữa Việt Nam và Mã Lai. Đường chín vạch này khoanh vùng gần hết Biển Đông, nó có lẽ là nguồn dữ kiện mà giới truyền thông và bình luận gia cho rằng Trung Quốc tuyên nhận toàn bộ hay hầu hết (80 phần trăm) vùng biển này. Nhưng ghi chú là những thông tin ngoại giao không chính thức, không phải là tuyên nhập chính thức có chữ ký. Hơn thế nữa, bản đồ này không đáp ứng tiêu chuẩn địa lý đòi hỏi theo Điều khoản 16 về tuyên nhận chủ quyền lãnh hải.
Một bản phân tích chi tiết của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ về bản đồ này cho thấy nó thiếu nền tảng địa lý, pháp lý và lịch sử để cấu thành một tuyên nhận chủ quyền lãnh hải. Tuy bản đồ chín vạch bây giờ thường xuất hiện dưới dạng đồ họa, bối cảnh của ghi chú đính kèm gợi ý rằng bản đồ này chỉ mô tả tuyên nhận chủ quyền trên các đảo tại Biển Đông, chứ không phải vùng biển này. Và tuy ghi chú có nêu lập trường chính thức của Trung Quốc về các đảo này, nó có lẽ không trở thành một tuyên nhận có giá trị pháp lý tự nó. Hoa Kỳ thì không nhìn nhận tuyên nhận chủ quyền của Trung Quốc hay các quốc gia nào khác khi chủ quyền Trường Sa vẫn còn đang bị tranh chấp. Và khi chủ quyền của các đảo chưa được giải quyết thì vấn đề lãnh hải vẫn còn là điều tranh cãi.
Bối cảnh này phù hợp với các tuyên bố chính thức của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc và Chủ tịch Tập Cận Bình, trong đó họ luôn nhắc đến chủ quyền của các đảo, chứ không phải vùng biển. Nhưng với cách trình bày mập mờ Trung Quốc tạo ấn tượng tuyên nhận chủ quyền rộng lớn hơn. Sau chuyến công tác của chiến hạm Lassen, mặc dầu có lên tiếng phản đối chuyến đi này, Trung Quốc tuy thế không lấy lập trường thẳng thừng hay hàm ý rằng: có phải đảo Subi có phạm vi 12 hải lý, có phải Hải quân Hoa Kỳ vi phạm chủ quyền Trung Quốc, vùng biển nào mà Trung Quốc tuyên nhận chủ quyền, và lằn mức leo thang nào hiện hữu nếu xảy ra trên tương lai.
Lập trường mơ hồ về lãnh hải cho phép một quốc gia lấn lướt càng nhiều chừng nào được chừng đó trong khi vẫn để mở hé lối thoát để tránh chạm trán quân sự. Bộ Ngoại Giao Trung Quốc gọi chuyến đi của Lassen là bất hợp pháp, gây hại cho “quan hệ Mỹ-Trung, hoà bình và ổn định trong vùng”, và cảnh cáo Hoa Kỳ “kiềm chế những hành vi nguy hiểm hay khiêu khích”. Bộ Quốc Phòng Trung Quốc ca ngợi Hải Quân Trung Quốc đã làm tròn nhiệm vụ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, gìn giữ ổn định và hòa bình tại Biển Đông.
Sự lên tiếng mạnh mẽ của Trung Quốc chỉ nhắm đến đối tượng quần chúng trong nước và báo giới quốc tế. Ấn tượng mà truyền thông đưa tin là phản ứng của một Trung Quốc “giận dữ” đưa tàu chiến bám sát theo chiến hạm Lassen và “cảnh cáo” về việc qua lại “bất hợp pháp” và “cưỡng bức”. Theo lời kể lại của hạm trưởng tàu Lassen thì thực tế là chiến hạm Trung Quốc bám sát theo là chiếc tàu mà Lassen đã tương tác thường xuyên và thân mật trong nhiều tuần khi Lassen đi tuần tra trong vùng, và sau khi chuyển lời “cảnh cáo” mà Bộ Ngoại Giao đề cập, họ chúc chiến chạm Hoa Kỳ một “chuyến đi vui vẻ” và mong là “sẽ gặp lại”.

Chiến hạm USS Lassen (Ảnh: European Press Photo Agency)
Rõ ràng là Trung Quốc không có ý định muốn leo thang để gây ra sự cố với Hải quân Hoa Kỳ, nhưng cũng rõ rệt là họ muốn gầy dựng ấn tượng là họ có thể hay sẽ làm thế. Sự tương phản sâu sắc giữa thực tế và tin tức đưa ra cho thấy Trung Quốc muốn củng cố việc lấn chiếm trên Biển Đông bằng cách tăng ấn tượng là họ sẵn sàng chiến đấu để thuyết phục quần chúng Hoa Kỳ là chính quyền Hoa Kỳ không nên “liều lĩnh” can thiệp.
Nhưng chiến lược này có vấn đề nơi sân nhà khi mà giới chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc cũng bày tỏ thái độ tương tự về các vùng biển tuyên nhận nhằm nhắm đến khán giả quốc tế. Vì thế Trung Quốc sẽ gặp áp lực mạnh từ các lực trong nước không nhận thức được lập trường tinh vi cẩn thận của chính quyền. Giới chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc rất bất bình khi thấy chính quyền có khuynh hướng ra thông báo phản đối hơn là có hành động quân sự đối với chuyến tuần tra của Lassen.
Và điều nguy hiểm tột cùng là nếu cả Hoa Kỳ và Trung Quốc bắt đầu tin vào bộ tịch của chính họ - hay tệ hơn, bộ tịch của giới truyền thông và bình luận mà không liên quan gì đến chiến lược chính thức. Ngay bây giờ thì rõ rệt là cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều không muốn rủi ro đụng độ trên Biển Đông, ngay cả khi đôi bên không thích cách hành xử của nhau. Nhưng đến lúc nào đó bộ tịch của đôi bên đòi hỏi phải có hành động tương xứng - mặc dầu chẳng bên nào muốn.

Hoàng Thuyên lược dịch

Steven Stashwich là phân tích gia và cây bút ở thành phố New York. Ông từng là sĩ quan hải quân Hoa Kỳ 10 năm trời với nhiều lần công tác tại vùng Tây Thái Bình Dương. Ông thường viết về các vấn đề hàng hải ở Đông Á và vẫn còn phục vụ trong lực lượng trừ bị Hải Quân Hoa Kỳ. Quan điểm trong bài viết này là của riêng ông.


 
Nguồn: The Diplomat

Thứ Sáu, 12 tháng 2, 2016

Đối đầu với Trung Quốc tại Biển Đông: Đa Phương Hóa Tự Do Hải Hành là bước kế tiếp

Mira Rapp-Hooper - Foreign Affairs
8/2/2016

Chiến hạm USS Curtis Wilbur trong chuyến công tác tự do hải hành vào cuối tháng Giêng vừa qua (Ảnh: Inquirer).

Vào ngày 29 tháng Giêng, chiến hạm USS Curtis Wilbur đi ngang phạm vi 12 hải lý của đảo Triton, đang dưới quyền kiểm soát của Trung Quốc và cả Đài Loan và Việt Nam đều tuyên nhận chủ quyền. Cũng như chuyến công tác tự do hải hành trước đó vào tháng Mười, chuyến hải hành của Wilbur nhằm phản đối việc Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền lãnh hải mà Hoa Kỳ và một số quốc gia Đông Nam Á xem là quá đáng. Nhưng khác với chuyến công tác trước đó của chiến hạm USS Lassen mà giới chuyên gia đánh giá là không đạt, chuyến công tác này gửi một thông điệp pháp lý rõ rệt đến Bắc Kinh và mọi giới. Đồng thời còn cho thấy một số chỉ dấu hỗ trợ quan trọng từ các quốc gia trong vùng cho các chuyến công tác tự do hải hành của Hoa Kỳ.

Một cách tổng thể, Hoa Kỳ đang tìm thế đứng trong Biển Đông. Hoa Kỳ có thể tiếp tục làm rõ nét các thông điệp và chiếm được hậu thuẫn trong vùng bằng cách phổ biến công khai thêm thông tin về các hoạt động tự do hải hành và bằng cách xây dựng một liên minh đa phương hỗ trợ công tác trên.

Đi biển yên sóng lặng

Luật lệ quốc tế không cấm việc bồi đắp đảo nhưng khi Trung Quốc xây các căn cứ quân sự trên các đảo, họ đã vượt qua lằn ranh pháp lý. Đặc biệt là họ tuyên nhận chủ quyền trên biển và trên không quanh các đảo nhân tạo mà Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) không công nhận.
Để phản ứng với những tuyên nhận như thế, giới làm chính sách Hoa Kỳ dùng chương trình tự do hải hành dưới sự giám sát của Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng. Mục tiêu của chương trình này là không thừa nhận những tuyên nhận chủ quyền trên biển và trên không mà không phù hợp với UNCLOS. Chương trình đã có lâu năm này thực hiện hơn một chục chuyến công tác tự do hải hành mỗi năm, với nhiều chuyến tại Á Châu. Tại vùng đảo Trường Sa không có nhiều hoạt động lắm cho đến ngày 27 tháng Mười năm 2015 mới có chuyến công tác của tàu USS Lassen đi vào phạm vi 12 hải lý của bãi đá ngầm Subi.

Nhiều nhà phân tích chờ đợi là khi ở trong phạm vi 12 hải lý của bãi đá Subi, chiến hạm Lassen sẽ thực hiện một số thao tác quân sự. Các thao tác này sẽ chứng minh cho thấy Washington bác bỏ tuyên nhận chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc, vùng biển mà luật quốc tế thông thường cấm các hoạt động quân sự nước ngoài. Nhưng sau đó người ta mới biết là chuyến đi này khiêm nhượng hơn nhiều: chỉ nhằm không thừa nhận đòi hỏi của Trung Quốc muốn các chiến hạm nước ngoài phải xin phép trước khi tiến vào vùng biển. Thông điệp không rõ ràng xoay quanh chuyến công tác đó đã gây ra nhiều ồn ào trong giới chuyên gia Hoa Kỳ và khiến các đối tác trong vùng Châu Á nêu thắc mắc về ý định của Hoa Kỳ và Hoa Kỳ có thật sự xem nghiêm trọng chuyện này không.

Chiến hạm USS Lassen

Trong chuyến công tác tự do hải hành mới đây nhất thì không có chút mập mờ nào cả. Đúng vào ngày công tác diễn ra, Bộ Quốc Phòng ra thông báo chi tiết cho biết chiến hạm Curtis Wilbur đã đi ngang qua phạm vi 12 hải lý của đảo Triton và hành xử thích ứng với việc qua lại không gây hại. Mục tiêu của chuyến đi này không phải là để thách thức chủ quyền của Trung Quốc trên đảo Hoàng Sa vì Trung Quốc đã chiếm đóng Hoàng Sa từ 1974. Mục tiêu đúng ra là để không thừa nhận đòi hỏi của Trung Quốc phải thông báo trước. Trên thế giới hiện nay chỉ có một vài quốc gia đòi hỏi việc này, luôn cả Việt Nam và Đài Loan. Khác với chuyến công tác trước, lần này chuyến đi không được rò rỉ thông tin ra cho giới truyền thông trước khi khởi hành, và sau đó có thông tin chi tiết từ Ngũ Giác Đài về chuyến công tác giúp cho chính quyền Hoa Kỳ lên tiếng đồng nhất về mục tiêu.

Cùng với chuyến bay của hai oanh tạc cơ B-52 bay ngang không phận đảo Trường Sa vào tháng Mười Một, chuyến công tác tự do hải hành mới nhất chứng minh cho thấy Hoa Kỳ cam kết với lời hứa thực hiện thường xuyên loại công tác này tại Biển Đông. Nếu Hoa Kỳ có ý biểu lộ với Trung Quốc sự hiện diện của Hoa Kỳ tại vùng biển tranh chấp này là chuyện thường tình thì phải tiếp tục giữ thông lệ này.

Hướng đến tự do hải hành của vùng

Phần lớn việc đưa tin về chuyến đi của chiến hạm Curtis Wilbur xoay quanh thông điệp pháp lý mà Hoa Kỳ nhắm gửi đến Trung Quốc và phản hồi của Trung Quốc cáo buộc Hoa Kỳ vi phạm luật lệ quốc tế và quốc gia. Ít ai để ý phản ứng của Việt Nam, là quốc gia cũng đòi hỏi phải thông báo trước khi vào hải phận và cũng tuyên nhận toàn bộ chủ quyền Hoàng Sa. Việt Nam gọi chuyến công tác này là “một đóng góp cụ thể và tích cực cho hòa bình và ổn định trong vùng” và tái xác nhận quyền thực hiện công tác này theo UNCLOS. Việc tán thành này đáng lưu ý với một số lý do. Trước nhất, mặc dầu Washington và Hà Nội có đến gần với nhau hơn gần đây, Việt Nam vẫn giữ mối quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc, và không như các đối tác lâu năm với Hoa Kỳ trong vùng, họ thường ngần ngại tán thành công khai các lập trường của Washington (đơn cử là Việt Nam giữ yên lặng sau chuyến công tác của chiến hạm Lassen). Hà Nội chọn không tái xác nhận lập trường đòi hỏi phải thông báo trước sau chuyến công tác của USS Wilbur và ấn tượng hơn hết là việc tán thành công khai một công tác của Hoa Kỳ – gợi ý rằng Việt Nam ngày càng quan tâm hơn đến việc hỗ trợ để đẩy lùi sự lấn chiếm của Trung Quốc.

Không riêng gì Việt Nam. Tiếp theo sau chuyến đi của chiến hạm Lassen hồi tháng Mười, nhiều đồng minh của Hoa Kỳ trong vùng – Úc, Nhật, Phi, Nam Hàn – cũng bày tỏ sự hỗ trợ cho các nguyên tắc cơ bản của chuyến công tác, và cả Phi và Việt Nam phản đối các chuyến bay thử nghiệm xuống phi đạo trên bãi Fiery Cross tại Trường Sa.

Máy bay thám thính P-3 của Nhật Bản.

Các đồng minh của Hoa Kỳ trong vùng đã đi đôi lời nói với việc làm. Úc đã tiến hành các chuyến bay dọ thám trên vùng Biển Đông, và Thủ tướng Malcolm Turnbull đề nghị hồi tháng Giêng là quân đội Úc có thể tiến hành các công tác trên không và trên biển trong phạm vi 12 hải lý của các đảo tranh chấp. Nhật cũng thông báo là các máy bay thám thính P-3 sẽ đi tuần tra trong vùng Biển Đông khi chúng hoàn thành công tác ở Phi Châu trở lại. Vào tháng Mười Hai, Singapore đồng ý cho Hoa Kỳ triển khai tạm thời một máy bay thám thính P-8 Poseidon mà nhiều phần sẽ hoạt động trên vùng Biển Đông. Và cuối tháng qua, sau một năm trời chờ đợi, Tòa Tối Cao của Phi Luật Tân ra phán quyết xác nhận Hiệp Ước Hợp Tác Quốc Phòng Tăng Cường giữa Manila và Washington, mở đường cho việc đưa quân đội Hoa Kỳ đóng quân tại năm căn cứ mới và gia tăng thao dượt và thực tập chung. Sau đó Phi Luật Tân cũng đã yêu cầu cùng thực hiện tuần tra chung với Hoa Kỳ trong vùng Biển Đông.

Tốt rồi thì làm tốt hơn

Mặc dầu với những tiến triển gần đây, vẫn còn những bước khác mà Washington cần làm để thông điệp tự do hải hành hữu hiệu hơn. Để bắt đầu, Hoa Kỳ nên thúc đẩy hướng thực hiện đa phương dài hạn của tự do hải hành dựa vào sự hợp tác của mười thành viên ASEAN. Bên lề của các buổi họp thượng đỉnh hàng năm của các bộ trưởng quốc phòng ASEAN, Hoa Kỳ và các đồng minh Đông Nam Á có thể chia sẻ thông tin về các vi phạm tự do hải hành và phối hợp phản ứng của họ. Tổng thống Obama sẽ chủ tọa buổi họp thượng đỉnh của mười quốc gia ASEAN sắp tới đây tại California vào ngày 15 và 16 tháng Hai; ông nên dùng buổi họp đó để phát triển một chương trình như thế. Làm như thế sẽ định chế hóa các phản ứng tích cực trong vùng tiếp theo sau các chuyến đi của Lassen và Curtis Wilbur, khuyến khích hợp tác đa phương thường xuyên về các vấn đề tự do hải hành.

Toà án Trọng tài Thường trực của LHQ sẽ ra phán quyết về vụ kiện Trung Quốc của Phi Luật Tân vào cuối năm nay.

Cuối năm nay, Tòa Trọng Tài Quốc Tế về Luật Biển sẽ dự đoán là ra phán quyết có lợi cho Phi Luật Tân trong vụ kiện Bắc Kinh hồi năm 2013 về những tuyên nhận chủ quyền tại Biển Đông. Tòa sẽ nhiều phần hậu thuẫn khẳng định của Phi Luật Tân là nhiều tuyên nhận chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc là bất hợp pháp; Trung Quốc chắc chắn là sẽ không tuân theo phán quyết. Việc bất tuân phán quyết của Bắc Kinh sẽ mở ra một cơ hội hiếm có cho Hoa Kỳ để mở chiến dịch ngoại giao vận động trong vùng hỗ trợ cho việc tuân thủ pháp luật. Bộ Ngoại Giao nên bắt đầu chuẩn bị cho chiến dịch này. Bộ Quốc Phòng nên tiến hành các công tác tự do hải hành để củng cố cho phán quyết đó một khi xảy ra.

Khi Hoa Kỳ bắt đầu lại các công tác thường xuyên trong vùng Biển Đông, Bộ Quốc Phòng nên báo cáo thường xuyên hơn và đầy đủ hơn về các công tác tự do hải hành. Nhịp độ báo cáo nên là mỗi sáu tháng hoặc mỗi quý. Nên cho biết các nhóm đảo mà công tác tự do hải hành được thực hiện hơn là chỉ nêu tên quốc gia. Nên cho biết công tác nhằm đến mục tiêu gì. Bao nhiêu công tác để không thừa nhận đòi hỏi thông báo trước? Bao nhiêu công tác không thừa nhận những tuyên nhận hải phận không hợp lệ? Nêu lên những việc đó công khai sẽ giúp Washington duy trì thông điệp về tự do hải hành rõ ràng và kiên định, và điều đó sẽ giúp Hoa Kỳ giữ được sự hậu thuẫn về chính trị và trong vùng cho các công tác này. Cuối cùng, khi Hoa Kỳ và các đồng minh như Úc và Nhật tiến hành tuần tra trên Biển Đông thường xuyên, họ nên thiết lập cơ chế để phối hợp tuần tra. Khi chia sẻ thông tin về công tác và những tuyên nhận mà họ không thừa nhận, Washington và đồng minh sẽ gửi một thông điệp tiêu chuẩn và pháp lý mạch lạc đến Bắc Kinh và các vùng rộng lớn hơn.

Công tác tự do hải hành của Hoa Kỳ nhằm để khẳng định mặt pháp lý luật biển theo định kỳ, chứ không phải là những chứng minh về vũ lực. Làm một mình sẽ không đủ để chận đứng nỗ lực của Trung Quốc bành trướng ra Biển Đông. Nhưng chính tiềm năng giới hạn này lại khiến cho hiệu lực càng quan trọng hơn, và thông điệp rõ ràng cùng với hỗ trợ đa phương sẽ là những bước quan trọng cho mục tiêu đó.

Mira Rapp-Hooper, Nghiên Cứu Gia tại Chương Trình An Ninh Châu Á Thái Bình Dương, Trung Tâm An Ninh Hoa Kỳ Mới

Chân Trời Mới Media - Hoàng Thuyên lược dịch

Nguồn: Foreign Affairs

Theo Chân Trời Mới Media



Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2016

Nhìn lại tình hình Biển Đông trong năm 2015

Nguyễn Ngọc Bảo

Trong năm 2015, biến cố nổi cộm nhất trong tương quan quốc tế vùng Đông Á và Đông Nam Á chính là tranh chấp tại Biển Đông sau khi Trung Quốc ngang nhiên xây dựng các cấu trúc nhân tạo hải cảng, phi trường trên các bãi đá chìm để biến thành vùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế thuộc chủ quyền Trung Quốc.

Với 3,5 triệu cây số vuông, 11 tỷ thùng dầu dự trữ, 420 tỷ mét khối khí thiên nhiên phối kiểm được, và địa dư chiến lược kiểm soát hải lưu xuất, nhập cảng hàng hóa của nhiều quốc gia, Biển Đông trở thành một vùng tranh chấp nóng trên nhiều bình diện.

Thứ nhất, về mặt pháp lý là vụ đơn kiện Trung Quốc của Phi Luật Tân trước Tòa Trọng Tài Thường Trực đang tạo nhiều sự chú ý của các quốc gia trong vùng.

Thứ hai, trên bình diện ngoại giao, sự căng thẳng trên các diễn đàn quốc tế trong khu vực giữa Phi Luật Tân, Nhật Bản, Úc, Hoa Kỳ, với Trung Quốc đã làm hao tổn không biết bao nhiêu công sức của các nước qua những cuộc Hội nghị.

Thứ ba, trên bình diện quân sự là sự đối dầu giữa hải quân Trung Quốc với hải quân Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai, Hoa Kỳ đã tạo ra nguy cơ chạy đua vũ trang giữa các nước.

Thứ tư, đối với Việt Nam, Biển Đông là vấn đề gây phân hóa rõ rệt trong nội bộ lãnh đạo CSVN về việc thoát Trung hay bám Trung hiện nay.

I- Chiến lược xâm lược một cách yên lặng của Trung Quốc thất bại
 
Từ nhiều thập niên trước, Trung Quốc đã chuẩn bị chiến lược Trỗi Dậy Trong Hòa Bình (Peaceful Rising) trên lãnh vực kinh tế, ngoại giao, quốc phòng nhằm trở thành một siêu cường có thể cạnh tranh với Hoa Kỳ về mọi mặt, sau khi đã trở thành nền kinh tế thứ nhì của thế giới với tổng sản lượng quốc gia (TSLQG) 11.400 Tỷ mỹ kim (MK) so với Hoa Kỳ 18.000 Tỷ MK, Nhật 4.100 Tỷ MK).

Nhờ chiếm lĩnh thế giới về hàng hóa may mặc, gia dụng, điện tử với giá nhân công được giữ ở mức thấp, một hạ tầng cơ sở được tân trang nhanh chóng nhờ vào nỗ lực sao chép, lấy cắp các kỹ thuật tiền tiến Tây phương môt cách khôn ngoan, chọn lọc qua mạng Internet (qua các tổ hackers quân đội), với khối lượng đầu tư trực tiếp lớn lao (Foreign Direct Investment) là128 tỷ MK trong năm 2014 so với Hoa Kỳ 86 tỷ MK, dựa trên tiềm năng thương mại của một thị trường khổng lồ hơn 1,4 tỷ người. Trung Quốc dần dần thực hiện bước đầu của chiến lược kiểm soát hoàn toàn các vùng thuộc chu vi sinh tử của họ (Biển Đông, Quần Đảo Điếu Ngư).

Nhưng chiến lược này hiện nay đang thất bại. Tại Điếu Ngư, Trung Quốc đã không áp lực, doạ nạt được Nhật để rời bỏ đảo này. Trong các Tháng Tư, Tháng Năm, Tháng Sáu, 2015, phi cơ chiến đấu Nhật đã cất cánh để ngăn chặn hơn 170 lần các phi cơ ngoại quốc vi phạm không phận Nhật. Trong số này có 66% là phi cơ Trung Quốc. Trước đó con số này là 340 trong năm 2014, và 300 trong năm 2013.

Phi cơ chiến đấu Nhật đã ngăn chặn hơn 170 lần các phi cơ ngoại quốc vi phạm không phận Nhật trong năm 2015; trong số này có 66% là phi cơ Trung Quốc.
Những hành động khiêu khích của Trung Quốc đã gây ra phản ứng ngược khiến Nhật Bản tăng cường ngân sách quốc phòng lên mức kỷ lục gần 40 Tỷ MK, đồng thời gia tăng quân số thêm 10.000 quân, đưa các chiến hạm tối tân để phòng thủ 200 đảo thuộc dẫy quần đảo trải dài 1400 cây số phía Nam Nhật tới phía Bắc Đài Loan. Ngoài ra Nhật Bản đã chấp thuận gởi chiến hạm tuần tra trên Biển Đông cùng với Hoa Kỳ cũng như dân chúng Nhật kêu gọi tẩy chay hàng hóa Trung Quốc.

Mặc dù Trung Quốc có nhiều chiến hạm, tiềm thủy đĩnh hơn Nhật, nhưng về mặt kỹ thuật, khả năng tác chiến, mức tối tân các hệ thống võ khí, hải quân Nhật vẫn chiếm ưu thế hơn Trung Quốc. Lý do dễ hiểu là Nhật được Hoa Kỳ cho phép chế tạo lại các võ khí hiện đại nhất như hệ thống radar điện tử Aegis, hỏa tiễn chống hỏa tiễn SM3-6, khu trục hạm loại Arleigh Burke, chiến đấu cơ F-15.

Tại Biển Đông, nhờ sự đồng lõa tay sai của lãnh đạo CSVN, Trung Quốc đã chiếm hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam từ năm 1974, và từ đó đến nay tìm cách gặm nhấm các đảo tại Trường Sa (Fiery Cross – Đá Chữ Thập, Mischief Reef – Đá Vành Khăn), và các đảo thuộc lãnh hải phía Tây Phi Luật Tân (Scarborough Shoal - Bãi Cạn Hoàng Nham) qua việc dùng sức mạnh hải quân lấn chiếm và dựng lên các phi trường quân sự trên các đảo nhân tạo mà Công Ước LHQ về Biển 1982 UNCLOS không công nhận là một đảo.

Tàu nạo vét Trung Quốc trên Đá Vành Khăn trong vùng tranh chấp Trường Sa.

Chủ trương Trung Quốc là sau khi chiếm xong bằng võ lực rồi mới tìm cách thương thuyết song phương với Phi Luật Tân. Phi Luật Tân cương quyết từ chối thương thuyết song phương và đưa vấn đề đường Lưỡi Bò 9 điểm của Trung Quốc ra trước Tòa Trọng Tài Thường Trực tại The Hague vào đầu năm 2013. Sau gần 3 năm xét xử và 4 phiên tòa, vào ngày 29/10/2015, Tòa xác nhận có thẩm quyền thụ lý đơn kiện của Phi Luật Tân về đường Lưỡi Bò, bất chấp các phản đối của Trung Quốc.

Các quốc gia ven Biển Đông khác như Mã Lai, Nam Dương và các quốc gia tiên tiến đồng minh với Hoa Kỳ như Nhật Bản, Úc, nhìn ra tham vọng của Bắc Kinh là dùng Biển Đông làm bàn đạp để tiến tới chuỗi đảo thứ hai, mở ra các hải lộ đại dương, nên đã cùng Ấn Độ hình thành một loại liên minh quân sự không chính thức chống lại sự bành trướng của Bắc Kinh. Chỉ riêng có Việt Nam đứng ngoài vì áp lực của Trung Quốc.

Liên minh này đã tiến hành các tập trận chung, tân trang hải quân với các võ khí tối tân của Hoa Kỳ, Pháp; riêng Hoa Kỳ đã phái khu trục hạm Arleigh Burke Lassen, phi cơ tuần thám đại dương P-8 Poseidon, oanh tạc cơ chiến lược B-52 bay trên không phận hay đi vào trong phạm vi 12 hải lý của những hòn đảo Trung Quốc đang chiếm đóng (FON - Freedom Of Navigation), tầu Ấn Độ đi vào vùng đặc quyền khai thác kinh tế của Việt Nam thăm dò dầu hỏa để thách thức sức mạnh của hải quân Trung Quốc. Cho đến nay, Trung Quốc chỉ phản đối bằng miệng.

Vấn đề Biển Đông đã được quốc tế hoá rộng rãi trong 2015 (Dialogue Sangri-La, Hội Nghị song phương Hoa Kỳ – Úc, Hoa Kỳ-Nhật, Diễn Đàn APEC) và trở thành mối quan tâm chung của thế giới, vì một cuộc đụng độ giữa hải quân Trung Quốc và phe Liên Minh, có nguy cơ dẫn đến một cuộc tranh chấp lớn giữa các cường quốc.

Mã Lai (với bãi cạn Luconia Shoals) và Nam Dương (với quần đảo Nantuna) đang xem xét để đưa Trung Quốc ra trước Tòa Trọng Tài, trong trường hợp Trung Quốc tiếp tục xâm phạm chủ quyền 2 nước này. Nhóm G7 (08/06/2015), Liên Âu đã lên tiếng cảnh giác về âm mưu quân sự hóa Biển Đông, gián tiếp ám chỉ Trung Quốc.

Nói tóm lại, Trung Quốc đã thất bại trong âm mưu phân hóa và đàm phán song phương với từng quốc gia ASEAN, đặc biệt là Phi Luật Tân. Trung Quốc chỉ thành công đối với Việt Nam, đây là quốc gia ven Biển Đông duy nhất mà Trung Quốc khống chế được lãnh đạo bản xứ vì sự nhu nhược và bản chất tay sai của họ.

II) Quan hệ CSVN – Hoa Kỳ – Trung Quốc
 
Quan hệ CSVN – Hoa Kỳ
 
Hiện nay CSVN vẫn đang giữ thái độ đu dây giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, dù ảnh hưởng Trung Quốc vẫn chi phối nặng nề trong guồng máy đảng, cụ thể qua việc sai khiến qua quyền lợi, mua chuộc, nắm tẩy được các thành phần lãnh đạo cao nhất như Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư Đảng CSVN; Trương Tấn Sang, Chủ Tịch Nước; Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng; Nguyễn Sinh Hùng, Chủ Tịch Quốc Hội.

Hiện nay tương quan giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trở nên thường xuyên với Hiệp Ước TPP và vấn đề Biển Đông. Mức giao du giữa quân đội CSVN và Hoa Kỳ đã gia tăng nhiều trong năm 2015, chiến hạm Hoa Kỳ đã nhiều lần ghé thăm Việt Nam tại Đà Nẵng, Sài Gòn, Cam Ranh. Ngoài ra có rất nhiều sĩ quan trung cấp và cao cấp CSVN đã được mời tu nghiệp tại các trường đào tạo sĩ quan nỗi tiếng tại Hoa Kỳ như West Point, Annapolis, Cao Đẳng Quân Sự về Không Quân... từ nhiều năm nay.

Chiến hạm Hoa Kỳ ghé thăm Đà Nẵng.
Hoa Kỳ gỡ bỏ một phần lệnh cấm bán võ khí sát thương trên biển vào ngày 18/11/15 và để cho Nhật chuyển nhượng 10 tầu tuần duyên hạng nhẹ cho CSVN. Với truyền thống lịch sử bất khuất và độc lập của dân tộc Việt Nam, đã từng giữ vững đất nước trước các âm mưu thôn tính của Trung Quốc qua lịch sử và tinh thần cầu tiến, siêng năng, hội nhập rất nhanh và thành công trong xã hội Hoa Kỳ của gần 3 triệu người Hoa Kỳ gốc Việt, sự hiện diện của nhiều người Hoa Kỳ gốc Việt trong guồng máy tiểu bang và liên bang Hoa Kỳ với những trách vụ cao cấp hoạch định về chính sách, điều hành, Hoa Kỳ đánh giá cao khả năng của Việt Nam nhằm đối đầu với Trung Quốc; nếu được hỗ trợ.

Hiện nay, các liên hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam có gia tăng cường độ trong năm 2015 ở nhiều cấp bộ khác nhau, với các vòng thương thuyết về TPP (Trans Pacific Partnership) và mức giao thương gia tăng (xuất cảng 19 tỷ MK qua Hoa Kỳ – nhập cảng 4,3 tỷ MK). Chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của Nguyễn Phú Trọng vào ngày 5/7 qua lời mời của Tổng Thống Obama đánh dấu một mốc điểm quan trọng cho cả hai bên.

Về phần Việt Nam, muốn nâng quan hệ chiến lược có thêm phần cụ thế với Hoa Kỳ, nhằm quân bình lại áp lực quá nặng từ phía Trung Quốc, xoa dịu phản ứng phẫn nộ của dân chúng và của nhiều thành phần trong quân đội. Phần vụ của các cộng đồng, tổ chức tại Hoa Kỳ là mở rộng các hướng vận động cho nhân quyền, đặc biệt các điểm về Công Đoàn, Quyền Sở Hữu Trí Tuệ, Thông Tin, Hiệp Ước TPP, khai dụng sức mạnh cử tri và vị trí trong xã hội Hoa Kỳ nhằm hỗ trợ cho các lực lượng dân chủ tại Việt Nam, và cần thuyết phục lập pháp và hành pháp Hoa Kỳ là chỉ khi Việt Nam có một chính quyền dân cử trong một thể chế tự do dân chủ thì lúc đó Việt Nam mới quyết tâm và có khả năng đương đầu với Trung Quốc.

Quan hệ CSVN – Trung Quốc
 
Việt Nam là một địa bàn chiến lược đối với Trung Quốc. Điều này phản ảnh qua toan tính thôn tính và đồng hóa Việt Nam của tất cả các triều đại Trung Hoa từ hơn 2.200 năm nay. Từ 24 năm nay sau khi Liên Xô sụp đổ (1991), nhu cầu giữ chặt Việt Nam trong vòng kiềm toả của mình lại càng trở nên quan trọng hơn đối với Trung Quốc, khi mà các quốc gia có cùng ý thức hệ XHCN chỉ còn sót lại vài ba nước. Trong khi đó, để duy trì được quyền lực của đảng CSVN, hệ thống tuyên huấn của CSVN đều hoàn toàn dựa trên đường lối và chính sách của Trung Quốc, để làm kim chỉ nam cho đường lối của Đảng CSVN.


Nguyễn Tấn Dũng và Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì nhân chuyến thăm Việt Nam tháng 6/2014.

Sự lệ thuộc Trung Quốc về chỗ dựa về chính trị, theo thời gian với sự vươn lên của Trung Quốc thành sự lệ thuộc ngày càng chặt chẽ về mặt kinh tế, văn hóa, ngoại giao và mất dần chủ quyền, Hoàng Sa đã bị thôn tính hoàn toàn, năm 1988 nhiều đảo tại Trường Sa bị xâm chiếm, và tình trạng này tiếp tục cho đến nay.

Với sự phát triển vượt bực của mạng Internet, thái độ qụy lụy, bán nước của lãnh đạo CSVN ngày càng lộ rõ. Ngoài ra sự quyết tâm đề kháng để sống còn, tránh bị đồng hóa thành người Trung Hoa đã là một đặc điểm chung của người Việt Nam từ lịch sử. Do đó, trong vài năm gần đây, trước thái độ xâm lược của Trung Quốc ngày càng rõ nét, ngạo mạn, xem thường Công pháp Quốc tế, sẵn sàng dùng mọi áp lực bẩn thỉu nhất để đè bẹp, khống chế các quốc gia nhỏ hơn, một số thái độ đề kháng đã xuất hiện trong guồng máy trung tầng của đảng, nhất là trong quân đội CSVN cho nhu cầu truyền thống bảo vệ chủ quyền dân tộc chống ngoại xâm.

Đó là một phần lý do, tại sao cho đến giờ (sau một vài lần cho hải quân đi tuần tiễu chung với hải quân Trung Quốc trong mấy năm trước), người ta chưa thấy quân đội CSVN tập trận chung với quân đội Trung Quốc, hay chiến hạm Trung Quốc đến viếng thăm các hải cảng Hải Phòng, Đà Nẵng, Cam Ranh hay Sài Gòn tại Việt Nam.

Hiểu rõ khả năng đề kháng của dân tộc Việt Nam, lãnh đạo đảng CSTQ đã tìm cách gài bẫy để nắm tẩy, mua chuộc các thành phần lãnh đạo đảng CSVN hầu thôn tính trong êm thắm đất nước và đồng hóa dân tộc Việt Nam mà không phải hao tốn sinh mạng và vật chất qua một cuộc chiến tranh. Qua tất cả các triều đại Tổng Bí Thư, từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, cho đến Nguyễn Phú Trọng; ảnh hưởng của Trung Quốc rầt nặng nề và chi phối rất nhiều lên sự lựa chọn thành phần lãnh đạo và dàn cán bộ cao cấp trong hàng chục năm qua.

Trên mặt Biển Đông, Trung Quốc chiếm Hoàng Sa và xây dựng sân bay quân sự tại Trường Sa. Trên đất liền, Trung Quốc đã gởi hàng chục ngàn công nhân và gia đình xâm nhập vào vùng Cao Nguyên Trung Phần tại Vũng Áng, khống chế các guồng máy chính trị, kinh tế tại Lào và Cam Bốt để bao vây Việt Nam.

Với tất cả khả năng khống chế đó, Trung Quốc đã chi phối chính trường Việt Nam trước các Đại Hội Đảng CSVN cũng như lần thứ 12 năm nay, để chọn lựa các nhân vật lãnh đạo có lợi cho họ. Nhưng âm mưu này đã và đang gặp phải sức đề kháng mạnh liệt của dân tộc Việt Nam.

Quan hệ Hoa Kỳ – Trung Quốc
 
Hiện Hoa Kỳ đang có nhiều điểm tranh chấp trầm trọng với Trung Quốc: về lãnh vực giao thương, với các nỗ lực tranh đoạt ưu thế bất chính của Trung Quốc trên thương trường, bất chấp các điều khoản của Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế, về lãnh vực bản quyền và kỹ thuật tiền tiến, với chủ trương tấn công qua mạng để chiếm đoạt (hacking) các dữ kiện mật về kỹ thuật quân sự, công nghệ cao, về Biển Đông, với nỗ lực chiếm đoạt các đảo, xây dựng căn cứ quân sự để khống chế vùng biển chiến lược này.

Theo Bộ Thương Mại Hoa Kỳ, các cạnh tranh bất chính, tấn công lấy cắp qua mạng Internet đã làm cho Hoa Kỳ mất 300 tỷ MK và hơn 1,2 triệu việc làm tại Hoa Kỳ. Hiện nay, người dân đang tiến hành việc tẩy chay hàng hóa Trung Quốc, nhiều hãng Hoa Kỳ đã rút ra khỏi Trung Quốc và chủ trương “Buy Made In America” đang thịnh hành.

Hoa Kỳ đã vận động sự hình thành một TPP rộng lớn trên toàn vùng Á Châu Thái Bình Dương nhằm cô lập Trung Quốc về mặt kinh tế. Trước các hành động xâm lược bất chấp Công Pháp Quốc Tế của Trung Quốc trên Biển Đông, Hoa Kỳ lúc đầu giữ thai độ trung lập, nay đã nghiêng dần về khuynh hướng đối đầu và hỗ trợ trực tiếp các đồng minh.

Sau khi chấm dứt tham gia bộ chiến tại Irak và A Phú Hãn, Hoa Kỳ đang dồn hải lực về vùng Tây Thái Bình Dương. Bộ Chỉ Huy Thái Bình Dương Hoa Kỳ (CinCPAC) gồm 300.000 người, trong đó Lục quân 80.000, Hải quân 140.000, Không quân 50.000, với 200 chiến hạm, tầu ngâm, và hơn 1.500 phi cơ chiến đấu, nhằm đối phó với sự bành trướng của Trung Quốc, trấn an các đồng minh như Nhật, Đài Loan, Phi, Úc.

Hiện nay, về số lượng hải quân Trung Quốc đã trở thành lực lượng thứ nhì thế giới với 300 tầu chiến hạm (53 tầu ngầm loại diesel, 3 tầu ngầm nguyên tử, 1 hàng không mẫu hạm, 21 khu trục hạm, 52 khu trục hạm hạng nhẹ, 57 tầu đổ bộ, khoảng 100 tầu nhỏ loại tuần duyên), trong lúc đó hải quân Nhật tuy ít hơn về số lượng nhưng rất hiện đại với 4 hàng không mẫu hạm chở trực thăng, 26 khu trục hạm, 11 khu trục hạm loại nhẹ, 16 tầu ngầm, 3 tầu đổ bộ và 41 tầu tuần duyên, huấn luyện.
Hải quân Trung Quốc hiện vẫn còn thua kém xa Hoa Kỳ.
Tuy nhiên nếu so sánh với Hoa Kỳ (gần 4 triệu tấn và 300 chiến hạm lớn), hải quân Trung Quốc (1,5 triệu tấn) hiện vẫn còn thua kém xa về số lượng trọng tải và hiệu năng chiến đấu, về phẩm chất, kỹ thuật chế tạo tầu chiến, tầu ngầm; mức độ đa năng và tầm sát hại rộng lớn của các hệ thống võ khí, tầm bao phủ xa cả ngàn cây số và chính xác của các hệ thống kiểm báo hỗn hợp (Aegis, vệ tinh, phi cơ Awacs, trực thăng, drone), hỏa lực của phi cơ trên các mẫu hạm, khả năng tác chiến tinh nhuệ rút từ kinh nghiệm trận địa hàng ngày trên khắp thế giới.

Nếu cộng thêm với hải quân Nhật Bản, Úc, Ấn Độ, hải quân Trung Quốc hoàn toàn ở thế yếu, không có khả năng để đương đầu với một tập hợp hải quân của siêu cường Hoa Kỳ và 3 quốc gia lớn trong vùng Á Châu Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Kết luận
 
Cái giá mà Trung Quốc phải trả cho việc chiếm được một số đảo trên Biển Đông và biến những đảo này thành cứ điểm quân sự trở thành quá cao: Trung Quốc bị cô lập trên trường quốc tế, hình ảnh Trỗi dậy trong Hòa Bình bị gẫy đổ, đầu tư vào Trung Quốc từ Hoa Kỳ, Nhật, Liên Âu bị suy giảm, hàng hóa bị tẩy chay, khiến mức phát triển kinh tế giảm gần 10% xuống dưới 7% và sẽ còn tiếp tục suy giảm (mức độ suy giảm kinh tế trong thực tế có lẽ còn trầm trọng hơn nhiều so với các con số chính thức được công bố).

Chiến lược xâm lược một cách yên lặng của Trung Quốc thất bại. Bộ mặt bán nước, độc tài, tham ô, bạo tàn, của lãnh đạo đảng CSVN đã lộ rõ. Trong năm 2016, Tòa Trọng Tài Thường Trực sẽ phán quyết bác bỏ Đường Lưỡi Bò 9 điểm của Trung Quốc, các quốc gia ASEAN sẽ hợp lực để đầy lùi các tham vọng đế quốc của Trung Quốc, với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, Nhật Bản.

Người dân và các lực lượng dân tộc dân chủ sẽ khai thác vấn đề Biển Đông và bảo vệ chủ quyền nhằm tạo thế đoàn kết rộng lớn để đầy lùi chế độ CSVN.

Nguyễn Ngọc Bảo