Hiển thị các bài đăng có nhãn Dân chủ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dân chủ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2016

Quốc hội hay hội nghị đảng viên mở rộng?


Phạm Nhật Bình


Bầu cử quốc hội từ lâu không được quần chúng quan tâm, cho dù nó được nhà nước tôn vinh là “cơ quan quyền lực cao nhất nước”. Cứ mỗi 5 năm một lần, quốc hội được đảng Cộng sản Việt Nam cho “bầu” lại 500 đại biểu, mà hầu hết là đảng viên cộng sản với một số ít người ngoài đảng làm cây cảnh.

Năm nay theo chỉ đạo từ trước của Bộ Chính Trị, cuộc bầu cử quốc hội khóa 14 sẽ diễn ra vào ngày 22/5/2016. Theo thông lệ, Mặt Trận Tổ Quốc Trung Ương làm nhiệm vụ của mình bằng việc tổ chức cái gọi là “Hội nghị hiệp thương” để chọn người “xứng đáng” giới thiệu làm đại biểu. Phải có Mặt Trận Tổ Quốc nhúng tay vào mới được ra ứng cử … gọi là hợp pháp theo ý của đảng CSVN. Cơ chế hiệp thương ấy được chấp nhận và tồn tại như chuyện bình thường, tuy không có nước nào có.

Hội nghị Hiệp thương lần thứ nhất diễn ra tại Hà Nội hôm 16 Tháng Hai vừa qua.
Ngày 16 Tháng Hai vừa qua, Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất đã được tổ chức tại Hà Nội. Nó nhằm mục đích thỏa thuận thành phần cũng như số lượng người của các cơ quan và tổ chức thuộc trung ương sẽ được giới thiệu làm đại biểu quốc hội khóa 14. Dĩ nhiên đây là thành phần cốt cán nhất đang nắm trọn quyền hành pháp trong tay.

Theo đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến thành phần đại biểu chia ra như sau: các cơ quan Đảng 11 đại biểu, cơ quan Chủ tịch nước 3 đại biểu, Chính phủ 18 đại biểu, các cơ quan của Quốc hội (đại biểu đảm trách ở trung ương) 114 đại biểu.

Ngoài ra còn có 6 địa phương có từ 10 đại biểu Quốc hội trở lên. Riêng Hà Nội, TP. HCM, tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An mỗi địa phương có thêm 2 đại biểu chuyên trách. Như vậy theo sự sắp xếp này, số đại biểu Quốc hội thuộc cơ cấu trung ương là 198, số đại biểu thuộc địa phương là 302; tổng cộng là 500 người.

Nhìn qua các con số dự kiến, người ta thấy sự phân chia thật chặt chẽ và trung ương chiếm gần 40% ghế đại biểu trong tay. Điều rất đặc biệt là trong hiệp thương lần thứ nhất này, không thấy nói đến người tự ứng cử. Tuy nhiên để cho có vẻ dân chủ, “người ngoài đảng” cũng được cẩn thận dành cho 35 ghế đại biểu trong tổng số 500.

Nhưng con số 35 ghế đại biểu “người ngoài đảng” trong thực tế họ là những cảm tình viên, hoặc những loại người dễ sai khiến thì mới được “đảng cử” không khác gì những đảng viên đảng CSVN.
Dù vậy, tham dự hiệp thương lần đầu này, ông Lù Văn Que, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về dân tộc của Mặt Trận Tổ Quốc cho rằng, con số 35 người ngoài đảng là thấp và cần phải tăng thêm. Ông đề nghị tăng từ 35 lên 100 người và nhấn mạnh “dự kiến có 35 người ngoài đảng thì ít quá, họp Quốc hội đâu phải hội nghị đảng viên mở rộng, trong khi chúng ta có nhiều người ngoài đảng ưu tú.”

Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về dân tộc của Mặt Trận Tổ Quốc Lu Văn Que

Phát biểu của Lù Văn Que không có gì mới; nhưng ở thời điểm hậu Đại Hội 12 đã biểu hiện một sự chờ đợi thay đổi nào đó trong nội bộ đảng, sau câu tuyên bố “dân chủ đến thế là cùng” của Nguyễn Phú Trọng trong ngày bế mạc Đại Hội.

Mặc dù nhóm từ “người ngoài đảng” chưa được định nghĩa rõ ràng, nhưng chuyện bầu cử Quốc hội khóa 14 năm nay đang có nhiều diễn biến đặc biệt khiến dư luận quan tâm, luận bàn khá sôi nổi.
Một phong trào “tự ứng cử” nhằm thực hiện quyền lợi chính trị của người dân xuất hiện trong nước và được phổ biến rộng rãi trên các diễn đàn. Phong trào được dẫn dắt bởi những nhà hoạt động xã hội dân sự, những nhân vật bất đống chính kiến ôn hòa đủ mọi ngành nghề.

Căn cứ vào Điều 27 của Hiến Pháp 2013 quy định quyền bầu cử và ứng cử của công dân từ 18 đến 21 tuổi, nhiều nhân vật trong giới đấu tranh dân chủ đã tuyên bố tự ứng cử đại biểu quốc hội khóa 14. Họ nhận được sự ủng hộ của dư luận quần chúng vì vai trò đi đầu trong việc lấy lại quyền của mình từ lâu bị bỏ quên.

Đánh giá sự thành công hay thất bại của việc tự ứng cử lúc này có lẽ là quá sớm. Nó không quan trọng bằng việc những người tự ứng cử rõ ràng đã thúc đẩy và thức tỉnh mọi người về những gì vốn quy định trong hiến pháp mà bị nhà nước cố tình không tôn trọng.

Sẽ còn rất nhiều hội nghị hiệp thương do Mặt Trận Tổ Quốc tổ chức để làm công việc gạn lọc theo quan điểm của chế độ. Những người tự ứng cử cũng thừa biết cơ chế hiệp thương này đặt ra để chế độ giành quyền đề cử những ai được coi là thích hợp, đồng thời loại trừ những người mà chế độ đánh giá là không thích hợp. Họ có vượt qua cửa ải này hay không cũng chưa phải là mục đích cuối cùng.
Nhưng như ông Lù Văn Que nói, để “Quốc hội đâu phải hội nghị đảng viên mở rộng”, điều cần thiết đối với mọi người hiện nay là nhanh chóng gia tăng số lượng người ứng cử độc lập, bất chấp rào cản của hội nghị hiệp thương hay các cuộc “đấu tố” ở tổ dân phố. Với số lượng đông bất ngờ, người tự ứng cử đặt chính quyền trước những thách thức chưa từng có trong các cuộc bầu cử mà người dân dè bỉu “đảng cử dân bầu.”

Câu "Dân chủ đến thế là cùng" được ông Nguyễn Phú Trọng nhắc đến tại cuộc họp báo sau khi bế mạc Đại hội đảng 12 hôm 28 Tháng Giêng vừa qua.

Trong khi chế độ vẫn “kiên trì chủ nghĩa Mác-Lê” và “dân chủ đến thế là cùng”, người dân trong nước hơn lúc nào hết cần chứng minh cho đảng thấy cuộc bầu cử có thực sự dân chủ hay không, bằng cách coi hành động tự ứng cử đông đảo như là một nhu cầu của tất cả mọi người, để cuối cùng buộc đảng phải “hiệp thương” với nhân dân.

Mặt khác, nếu cuộc bầu cử được thực hiện tự do và công bằng thì chưa chắc Tướng Công An Trần Đại Quang, hay Ông Nguyễn Xuân Phúc cũng như nhiều người khác được đảng “cơ cấu” sẽ được người dân tín nhiệm để trở thành đại biểu quốc hội. Đến ngày 22 Tháng 5 người dân mới đi bầu, nhưng những người vừa kể đã nghiễm nhiên trở thành “đại biểu quốc hội” mà khỏi cần sự bầu chọn của người dân qua lá phiếu. Đúng là “dân chủ đến thế là cùng” theo kiểu của ông Nguyễn Phú Trọng.
Đừng để đảng tiếp tục độc quyền chính trị và quốc hội khóa 14 tiếp tục là một hội nghị đảng viên mở rộng.

Phạm Nhật Bình

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2016

Nhìn lại và suy ngẫm muộn màng của phó ban tuyên giáo đảng

Phạm  Nhật Bình

Phó ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương Vũ Ngọc Hoàng

Chưa bao giờ cuộc đấu đá một mất một còn đang diễn ra trên sân khấu nội bộ của triều đình đảng CSVN một cách gay gắt như đại hội đảng lần này. Thế nhưng, trong thời điểm quyết liệt ấy, Phó ban Tuyên giáo trung ương Võ Ngọc Hoàng lại nhẩn nha ngồi “Nhìn lại và suy ngẫm” về những thành tích của cái gọi là 30 năm đổi mới mà lãnh đạo Hà Nội nào cũng tự hào.

Cũng chỉ là khẩu hiệu
 
Khi nhắc tới từ “đổi mới”, không ai không nghĩ tới Đại hội lần thứ 6 của đảng CSVN vào Tháng 12, 1986. Đó là một Đại hội mà nhiều đảng viên đã mở mắt kêu gào “Đổi mới hay là chết”…

Với hào quang “đánh thắng đế quốc Mỹ đầu sỏ”, Hà Nội tiếp tục thí nghiệm mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa khắp miền Nam vừa cưỡng chiếm từ Tháng 4, 1975.

Cựu Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Văn Linh phát biểu tại Đại hội VI tháng 12, 1986.
 Chỉ vỏn vẹn 10 năm sau khi đánh dẹp “tư sản mại bản” và tận tình vơ vét những gì còn sót lại của bọn tư bản thối nát, kinh tế ưu việt xã hội chủ nghĩa đã đẩy đất nước xuống vực sâu của đói nghèo và hỗn loạn. Đời sống người dân lâm vào cảnh lao đao vất vả, sáng khoai, chiều sắn, tối bo bo.

Thế là cuộc đổi mới buộc phải diễn ra, đơn giản là lập lại một cách nửa vời những nguyên tắc căn bản của kinh tế tư bản. Tức quay lại copy một phần con đường mà miền Nam Việt Nam đã đi và đã phát triển từ hơn 30 năm trước.

Tuy nhiên, vì chỉ copy nửa vời và luôn bị kìm hãm bởi cái thắng “định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”, nên cuộc đổi mới ấy luôn đem lại sự sợ hãi triền miên cho đảng.

Trong bài viết của mình, ông Vũ Ngọc Hoàng cũng chỉ lập lại những lời lẽ tán dương cũ rích lâu nay về những thành tích hão huyền. Nào là “Công cuộc đổi mới do Đảng CSVN lãnh đạo đã giành được những thành tựu đáng kể…” Nào là “đưa đất nước vượt qua thời kỳ hết sức khó khăn và nghèo đói….” Đó là những gì mà người dân đã nghe đi nghe lại nhiều lần và ngao ngán đến tận cổ khi so sánh với thực tế.

Sau 30 năm, thành tựu nổi bật nhất chỉ tập trung vào quyền lực và quyền lợi duy nhất của đảng Cộng sản. Đảng nắm chặt độc quyền chính trị, từ đó mở rộng độc quyền kinh tế, lập ra các nhóm lợi ích để phân vùng thao túng nền kinh tế đất nước. Quyền lợi đất nước và nhân dân trở thành thứ yếu.

Cán bộ đảng từ trung ương đến địa phương coi việc bòn rút ngân sách quốc gia là chủ trương lớn, cùng nhau làm giàu phi pháp bằng mọi thủ đoạn hèn hạ nhất. Trung ương thì bán nước cho ngoại bang, địa phương thì vung tay cướp đất nhân dân để thủ lợi riêng.

Để bảo vệ thể chế độc tài của mình, suốt 30 năm gọi là đổi mới, đảng không ngừng đàn áp, bắt bớ, bóp nghẹt mọi quyền tự do công dân. Những cơ chế dân chủ giả hiệu tồn tại như những vòng cây kiểng, chỉ có nhiệm vụ tô điểm cho bộ mặt độc tài, lừa bịp người dân.

Sự trăn trối muộn màng
 
Thế nhưng lần này, bên cạnh những thành tựu đổi mới lừng lẫy ấy, Phó ban Tuyên giáo lại lớn tiếng kêu gọi đảng của ông: "Sớm có các bước đi phù hợp, cụ thể, tích cực nhằm đổi mới về chính trị, như việc kiểm soát quyền lực bằng quyền lực nhà nước, bằng cơ chế dân chủ, thông tin đại chúng và tự do ngôn luận, đổi mới quản lý nhà nước và phương thức lãnh đạo của Đảng…"

Người ta thấy ngay lời kêu gọi của Phó ban Tuyên giáo sắp về vườn chỉ là khẩu khí của một người muốn trốn tránh trách nhiệm và tội ác gây ra trong thời gian phục vụ. Vì lẽ nếu ông Hoàng thấy việc kiểm soát quyền lực bằng cơ chế dân chủ, hay bằng tự do ngôn luận là cần thiết, tại sao ông không nói ngay trong lúc còn quyền hạn trong tay?

Ông thừa biết cái gọi là cơ chế dân chủ, ở Việt Nam đã có quá đủ trên giấy tờ nhưng không bao giờ trở thành hiện thực. Vì lẽ đảng CSVN chỉ muốn dùng hai chữ dân chủ để trói buộc người dân trong vòng ảo tưởng.

Đảng cũng đang nắm trong tay một số lượng báo chí khổng lồ: 857 cơ quan báo chí và 67 đài phát thanh, truyền hình. Nhưng không vì thế mà Việt Nam “có nhân quyền và tự do báo chí hơn nhiều nước khác” như Bộ trưởng Thông tin-Truyền thông Nguyễn Bắc Son từng tuyên bố.

Quan điểm rõ ràng của nhà nước Việt Nam, báo chí là công cụ của đảng và nhất định phủ nhận bộ phận báo chí tư nhân. Nay ông Vũ Ngọc Hoàng đòi kiểm soát quyền lực đảng bằng thực hiện dân chủ và tự do báo chí phải chăng chỉ là lời nói “cho phải đạo trước khi chia tay.”

Nhưng thật ra cũng có không ít lãnh đạo cao cấp của đảng vẫn thường nói suông như thế. Điều này cho thấy sự giả dối cố hữu của các đảng viên CSVN. Họ không bao giờ dám nói thật về những thất bại nặng nề khi đảng khư khư ôm lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm kim chỉ nam để đưa Việt Nam xuống hố sâu tụt hậu, nghèo đói.

Chỉ khi nào họ sắp về hưu hay bị thất sủng mới dám rón rén nói lên những sự thật phũ phàng. Tại sao phải chờ sắp cầm sổ hưu mới nói, phải chăng đó là dũng khí của những “hèn đại nhân” thời đại cộng sản?

Loay hoay không lối thoát
 
Kiểm soát quyền lực như ông Hoàng kêu gọi chỉ có thể thực hiện trong một thể chế mà ba quyền hành pháp, lập pháp, tư pháp độc lập lẫn nhau. Bên cạnh đó, báo chí tư nhân được coi như một quyền lực thứ tư có tính cách bao trùm. Vì đó là nơi người dân có thể sử dụng quyền tự do ngôn luận của mình để góp ý hay phê bình chính phủ mà không sợ bị trả thù, bắt bớ, giam tù.

30 năm đổi mới định hướng xã hội chủ nghĩa không hề làm được chuyện đó. Hiến pháp 2013 sửa đổi vẫn duy trì và đóng đinh thật chặt vào Điều 4 để bảo vệ sự độc quyền của đảng cộng sản.

Nhiều lần các lãnh tụ đầu sỏ của đảng cũng kêu gọi cải cách nhưng đồng thời họ cũng từ chối, bài bác một hệ thống chính trị đa đảng. Đảng CSVN nhất định cố thủ trong pháo đài độc đảng, không ngần ngại tuyên bố nhất định không chia sẻ quyền lực với bất cứ ai.

Độc quyền chính trị sinh ra những đứa con tệ hại nhất. Nạn tham nhũng không ngừng lớn mạnh trở thành một lực lượng đắc lực song hành cùng đảng vơ vét tài nguyên đất nước, vun vén tài sản cá nhân càng ngày càng trắng trợn.

Sau 30 năm đổi mới định hướng xã hội chủ nghĩa, đảng CSVN vẫn nhất định cố thủ trong pháo đài độc đảng. 

Ông Hoàng cũng như biết bao lãnh đạo cộng sản khác chưa bao giờ nghĩ được trong một thể chế dân chủ thực sự, đảng cầm quyền chỉ là một công cụ để những người có khả năng ra phục vụ đất nước theo chu kỳ bầu cử từ lá phiếu người dân một cách công bằng và minh bạch. Những công bộc của dân trong một chế độ dân chủ như vậy hoàn toàn khác với những đày tớ dân hiện nay chỉ biết bám lấy quyền lực để làm giàu trên sự đau khổ của người dân.

Muốn giải quyết tình trạng tụt hậu mọi mặt của đất nước phải dám nhìn vào sự thật. Sự thật ấy không có gì khác hơn là đảng CSVN phải đưa ra một lộ trình cải cách rõ ràng và tiến tới việc sinh hoạt nghị trường đồng đẳng với các đảng phái khác. Không thể chỉ bằng cách ngồi nói những lời nói suông như ông Hoàng nhằm giúp cho đảng CSVN tồn tại trong khi đất nước ngày lụn bại.

Xem ra, sự “Nhìn lại và suy ngẫm” của phó ban tuyên giáo chỉ là những lời hiến kế muộn màng trong bối cảnh đảng đang mò mẫm trong đường hầm không lối thoát.

Hay nói khác đi ông Vũ Ngọc Hoàng đã đem nước đổ đầu vịt.

Phạm Nhật Bình

Chủ Nhật, 3 tháng 1, 2016

Nhìn lại Phong Trào Dân Chủ Dân Quyền trong năm 2015

Văn Chu


Nhìn lại 2015, ta thấy có những điểm nổi bật liên quan đến phong trào đấu tranh cho dân chủ, dân quyền tại Việt Nam, có thể tổng lược như sau:

1- Nhiều Tù Nhân Lương Tâm trở về với cộng đồng đấu tranh sau khi mãn hạn tù:

Tháng 4 có hai TNLT Nguyễn Văn Oai và Paulus Lê Sơn trở về.
Tháng 8 có hai TNLT Thái Văn Dung và Trần Minh Nhựt ra khỏi tù sau khi mãn hạn.
Tháng 9 thì Blogger Tạ Phong Tần bị CSVN đưa từ nhà tù sang Hoa Kỳ.
Tháng 11 có Mục sư Dương Kim Khải ra tù.
Tháng 12 có TNLT Việt Khang và Nguyễn Đình Cương mãn hạn tù.

Điểm đáng lưu ý là hầu hết những cựu tù nhân chính trị này sau khi ra khỏi tù. Họ đã có những tuyên bố đầy khí phách, cho thấy việc bắt bớ tù đầy, khủng bố ngược đãi trong tù đã không làm cho các TNLT nao núng. Nhà tù đã trở thành nơi tôi luyện thêm bản lĩnh và tinh thần bất khuất cùng niềm tin vào công lý và sự thật nơi các thanh niên yêu nước. Đây cũng là hiện tượng chung đối với đại đa số các tù nhân chính trị đã ra tù những năm trước đó.

2- CSVN gia tăng khủng bố qua tay côn đồ:

Có lẽ thấy giam cầm hành hạ người đấu tranh trong tù không có kết quả nhiều, đồng thời cũng ngại sự lên án trừng phạt của quốc tế, nên năm nay, bộ máy trấn áp của Đảng và nhà nước gia tăng khủng bố họ bằng cách ném đá giấu tay qua côn đồ nhiều hơn.

Tháng 4, Facebooker Trịnh Anh Tuấn, người điều hành trang mạng Vì Hà Nội Xanh bị hành hung.

Facebooker Đinh Quang Tuyến và Facebooker Nguyễn Chí Tuyến bị đánh đổ máu vào hai ngày khác nhau trong tháng 5/2015.

Tháng 5, Facebooker Nguyễn Chí Tuyến, người thường tham gia các cuộc biểu tình chống bá quyền Bắc Kinh, và Facebooker Đinh Quang Tuyến, người được biết đến với gánh hàng nước tiếp tế cho người biểu tình với tấm bảng “Không Bán Nước”; cả hai bị côn đồ đánh đổ máu vào hai ngày khác nhau trong tháng.

Tháng 11, Côn đồ leo thang, đánh luôn cả hai luật sư Trần Thu Nam và Lê Văn Luân khi đang điều tra vụ em Đỗ Đăng Dư bị giết trong đồn công an, rồi tiếp đó, luật sư Trần Vũ Hải cũng bị bạo hành và bắt giữ cả ngày trong khi làm việc liên hệ đến vụ trên. Côn đồ và công an đánh thành viên Lao Động Việt Đỗ Thị Minh Hạnh và nhà báo ngoài luồng Trương Minh Đức.

Tháng 12, Facebooker tranh đấu cho nhân quyền Trương Văn Dũng bị côn đồ tạt a-xít vào mặt và người. Các nhà tranh đấu cho công đoàn lao động độc lập Hoàng Đức Bình và Đỗ Thị Minh Hạnh cùng nhiều người khác đến đồn công an đòi thả người cũng bị hành hung. Luật sư Nguyễn Văn Đài cùng 3 người bạn trẻ bị chặn đánh sưng mặt trên đường ra về sau khi có buổi nói chuyện về Quyền Con Người với một số cử toạ tại nhà một cựu tù nhân chính trị. 10 ngày sau đó, ông chính thức bị bắt lần thứ hai về tội vi phạm điều 88.
Ông Trương Văn Dũng bị tạt a-xít vào mặt và người hôm 21/12.

Người ta biết ngay những tên côn đồ đánh người nói trên là do chỉ đạo từ công an hoặc chính công an giả dạng côn đồ, khi mà các nạn nhân nhận diện được thủ phạm là những nhân viên an ninh từng theo dõi canh chừng mình. Nhưng các nạn nhân đã không khiếp sợ và với sự tương trợ của cộng đồng mạng, họ đã cực lực tố cáo hành vi khủng bố ném đá giấu tay nhưng lộ liễu của công an.

Thủ đoạn khủng bố bằng xã hội đen và côn đồ, thực ra đang có tác dụng ngược đối với công an vì họ tự sa vào tình huống hai mặt bất lợi, tiến thoái lưỡng nan cho chính chế độ Hà Nội sau này.

Thực thế, hoặc họ sẽ mang tiếng là côn đồ, hèn, đuối lý, biết mình sai nhưng vẫn làm rồi đổ tội qua côn đồ “quần chúng tự phát” hoặc họ sẽ mang hình ảnh của một bộ máy bất lực ăn hại, không bảo vệ được người dân trước sự khủng bố bạo hành của đám côn đồ, không đảm bảo được sự an toàn và trật tự xã hội cho người dân theo đúng chức năng của mình. Càng sa vào một trong hai trường hợp trên những người công an sẽ càng khó có chỗ đứng an toàn trong xã hội trong thời kỳ hậu CS, khi công lý được thực thi.

Không những thế, đối với cộng đồng thế giới, hành vi ném đá giấu tay của công an chỉ khiến cho bộ mặt của nhà cầm quyền Hà Nội xấu xa thêm.

Ngày 11/12 Liên Hiệp Quốc đã ra thông báo quan ngại về việc nhà chức trách dường như làm ngơ và không truy tố những kẻ gây ra những vụ hành hung; trong khi đó thì tổ chức Human Rights Watch nói bạo lực kiểu này sẽ chỉ làm cho chính quyền “giống côn đồ”.

3- Cộng đồng Mạng càng ngày càng phát huy sức mạnh:

Năm 2015 cũng là năm mà cộng đồng mạng tiếp tục gia tăng sức mạnh của mình. Internet và Facebook càng ngày càng lan sâu rộng, đến cuối năm tỷ số dân cư mạng tại Việt Nam đã vượt qua 50% dân số (50,1%); có 35 triệu facebookers tại Việt Nam (tháng 11/2015), tỷ số 37% (đây là một tỷ số rất cao tại Á Châu).

Nhờ sự thẩm thấu sâu rộng như vừa kể, nhà cầm quyền đã không thể bưng bít thông tin, hay ngăn chặn những phê bình chỉ trích đảng và nhà nước trên mạng. Qua đó, đã có thêm một khối lượng quần chúng lớn lao không còn vô cảm thờ ơ cam chịu nhẫn nhục với những hiện tượng sai trái trong xã hội.

Tiếng nói đồng loạt của cộng đồng mạng ngày càng có trọng lượng đáng kể đối với giới cầm quyền. Trong một bài tổng kết về các hoạt động trên mạng, nhà báo Đoan Trang đã liệt kê gần 60 hoạt động mạng trong năm 2015. Trong đó có những vụ việc đáng kể như sau:

1/ Nhờ có sự la làng báo động về dự án chặt 6700 cây xanh tại Hà Nội và kêu gọi phối hợp rủ nhau xuống đường phản đối từ cộng đồng mạng vào tháng 3 và 4, nhà cầm quyền Hà Nội đã phải ngừng dự án trên;

2/ Cộng đồng mạng đã góp phần đáng kể bênh vực quyền lợi của người dân qua những vụ lấp sông Đồng Nai để xây chung cư và văn phòng hành chánh (tháng 4-7);

3/ Vụ người dân xuống đường phản đối nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân thả bụi ô nhiễm môi trường sống (tháng 4);

4/ Vụ dân Cam Ranh phản đối Hải Quân vùng 4 nạo vét luồng lạch khiến ngư sản nuôi ven bờ bị huỷ hoại (tháng 4-9).

Cộng đồng mạng đã phản đối mạnh mẽ việc lấp sông Đồng Nai.

Không chỉ can thiệp lên tiếng về những vấn đề tập thể chung, cộng đồng mạng đã góp phần bênh vực cho các cá nhân bị ép uổng oan sai, như các vụ:

1/ Công an tính bưng bít ém nhẹm sự cố em Đỗ Đăng Dư bị đánh chết trong tù của công an (tháng 9-10);

2/ Vụ tranh đấu ngưng thi hành án tử hình cho tử tù Lê Văn Mạnh (tháng 10);

3/ Vụ phản đối Bí thư đảng uỷ xã Tân Hiệp hạ thấp bậc đánh giá cô giáo Hải Âu và bắt cô làm tự kiểm điểm việc chê chiếc cầu của xã mới xây xong đã hư xém chết người (tháng 10);

4/ Vụ phản đối việc xử phạt tiền và kỷ luật công nhân viên vì dám viết tên Facebook rằng chủ tịch UBND tỉnh An Giang có mặt kênh kiệu (tháng 11).
Qua sức ép dư luận, chính quyền xã đã xin lỗi cô giáo Hải Âu bị hạ thấp bực đánh giá sau khi đăng trên Facebook cá nhân hình ảnh cầu sập xém làm chết người.
Những lên tiếng kể trên từ cộng đồng mạng trong đa số trường hợp đã lôi kéo truyền thông trong luồng phải chạy theo vào cuộc. Tạo áp lực khiến giới cầm quyền trong hầu hết các vụ trên phải đáp ứng theo, như ngưng dự án, ngưng thi hành án tử, khởi tố các vụ hành hung giết người, rút lại hình phạt thậm chí còn xin lỗi nạn nhân (trường hợp cô giáo Hải Âu).

Như thế, ngoài việc thúc đẩy phát triển lực cho phong trào đấu tranh, cộng đồng mạng còn tạo cơ hội cho giới cầm quyền học quen dần với sinh hoạt dân chủ đa nguyên để thoát dần tư duy một chiều độc tài làm cha mẹ dân.

4- Mở rộng và tăng cường sự liên kết giữa các nhóm xã hội dân sự và tổ chức đấu tranh:

2015 cũng là năm các nhóm Xã Hội Dân Sự làm việc khá chặt chẽ với nhau. Từ việc bênh vực nhau mỗi khi có ai trong một nhóm nào đó bị công an bắt giữ, thì người của các nhóm khác và bạn bè cùng nhau kéo tới đồn công an yêu cầu thả người, đến việc cùng nhau ký tên vào các bản lên tiéng nói lên sự đồng thuận về lập trường và quan điểm đối với những vấn đề chung.

Những bản lên tiếng chung này càng ngày càng thường xuyên hơn từ tháng 4 (nhận định về 30-4), tháng 6 (phản đối xử bất minh Hội Đồng Công Án Bia Sơn), tháng 10 (ủng hộ việc điều tàu Mỹ vào vùng biển Trường Sa bị Trung Quốc cưỡng đoạt, phản đối trù dập phóng viên Lương Tâm TV), tháng 11 (bênh vực cho em dân oan Mai Trung Tuấn bị xử bất công, phản đối đón tiếp Tập Cận Bình), tháng 12 (đòi thả Tù Nhân Lương Tâm nhân Ngày Quốc Tế Nhân Quyền)…

Các tổ chức xã hội chính trị đã lên tiếng phản đối em Mai Trung Tuấn bị xử bất công.
Đặc biệt nếu trước đây có những nhóm xã hội dân sự còn ngần ngại khi đứng tên chung hay làm việc chung với những tổ chức chính trị vì không muốn cầm quyền CSVN mượn lý cớ có liên hệ với tổ chức “phản động” để thẳng tay trù dập, thì nay các nhóm XHDS đã có thêm sự mạnh dạn tự tin để thoải mái công khai cùng các tổ chức chính trị lên tiếng hay hợp tác trên những vấn đề chung, khi có những đồng thuận về quan điểm và mục tiêu chung.

Các nhà đấu tranh đã cùng thấy rằng, trước thủ đoạn cường quyền luôn tìm cách chia rẽ để trị hầu dễ dàng thẳng tay trấn áp, tất cả các nhóm, dù có mang danh xã hội, từ thiện tương trợ ái hữu, hay chính trị đi nữa, đều có nhu cầu khai dụng những điểm mạnh của nhau để liên đới tương trợ nhau nhằm thúc đẩy phong trào dân chủ và dân quyền lên tầm cao hơn nữa.

5- Từ Mạng ảo xuống đường thật:

Như đã đề cập trong phần 3, người dân đã không còn chỉ phản đối lên tiếng phê bình nhà nước trên mạng mà qua mạng đã rủ nhau xuống đường thể hiện quyền được công khai nói lên tiếng nói của mình khi bất đồng với nhà cầm quyền.

Ví dụ như vụ chặt cây xanh ở Hà Nội, vụ xuống đường phản đối nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân, và mới đây trong tháng 12, người dân Hà Tĩnh đã xuống đường gây ùn tắc trên quốc lộ 1A để đòi thả 2 bà con đã bị công an bắt giữ vô lý trước đó mấy ngày.

Cũng trên đường thật ngoài mạng đó, ta đã thấy phong trào dân oan khiếu kiện đã được nâng lên một mức cao hơn. Nếu trước đây, các nhóm dân oan tuy rất kiên trì nhưng chỉ hoạt động rời rạc tự phát rải rác ở khắp nơi, thì vào tháng 10, phong trào dân oan đang đi vào tổ chức phối hợp chung cho cả 3 miền đất nước qua sự ra mắt của Hội Dân Oan Nông Dân 3 Miền Bắc Trung Nam.

Sự lựa chọn địa điểm ra mắt của Hội này, bằng một cuộc biểu tình ngay trước cơ quan truyền thông lớn nhất nước là đài Truyền Hình VN tại Hà Nội, cho thấy đây là một sự cân nhắc khôn ngoan có kế hoạch, thay vì biểu tình trước các nhà tiếp dân của quốc hội hay các UBND địa phương hay diễn hành trên đường phố như trước đây mà không kết quả bao nhiêu.
 
*

Tóm lại, năm 2015 là năm mà phong trào dân chủ dân quyền đang tiếp tục xây lực qua nhiều hình thái khác nhau đồng thời nong rộng, xoi mòn vòng xích kềm kẹp của Đảng và Nhà Nước CSVN.
Cùng lúc phong trào cũng đang và sẽ đối mặt với những cơ hội lẫn thử thách ngay trước mắt.

Cơ hội là sự đấu đá tranh giành quyền lực trong cung đình CSVN để chuẩn bị cho Đại Hội Đảng năm tới, một cuộc đấu đá đã lan ra bên ngoài, trên mạng cho quần chúng biết và rất quan tâm theo dõi. Đây là dịp tốt để khai dụng nhằm soi mòn phân hoá thêm các cột trụ chống đỡ chế độ.

Cơ hội là việc Việt Nam được tham gia khối TPP với những cam kết tuân thủ những tiêu chuẩn quốc tế về giao thương và lập hội mà phong trào có thể khai dụng để thúc đẩy sự minh bạch tôn trọng nhân quyền. Trong khi đó quốc hội Mỹ vẫn còn “treo” TPP, chưa bàn thảo chấp thuận, tạo cơ hội cho người Việt ở Mỹ thêm khoảng thời gian để vận động thêm áp lực.

Thử thách sẽ là sự gia tăng đàn áp của nhà cầm quyền CSVN để đảm bảo ổn định chính trị trước và trong kỳ Đại Hội Đảng, trấn áp vừa bằng côn đồ, vừa bằng công an bắt bớ như ta đang thấy với trường hợp Luật sư Nguyễn Văn Đài.

Thử thách cũng ở trong trận chiến nơi cung đình CSVN khi các phe phái khuynh loát lẫn nhau đưa đến những thái độ hành xử bất nhất đối với phong trào đấu tranh, khi thả khi xiết, khi muốn nương theo TPP, khi thì phá không cho TPP thành hiện thực theo ý của Bắc Kinh.

Trước những cơ hội và thử thách trước mắt đó, hy vọng các thành phần trong phong trào dân chủ dân quyền sẽ tận dụng phát huy hết tiềm năng của cộng đồng mạng, và sẽ càng gắn bó liên kết phối hợp tung hứng với nhau chặt chẽ hơn từ trong ra ngoài.

Văn Chu
Đầu năm 2016.











































Tiến đến Dân chủ - Những bài học từ các cuộc chuyển tiếp thành công

Abraham F. Lowenthal & Sergio Bitar
Foreign Affairs, số tháng Giêng/Hai 2016

Hội Nghị Bàn Tròn tại Warsaw, Balan ngày 6-2-1989.
Abraham F. Lowenthal là Nghiên Cứu Gia tại Viện Brookings và Giám Đốc Sáng Lập của Đối Thoại Liên-Mỹ. Sergio Bitar là Giám Đốc của Sáng Hội cho Dân Chủ của Chile và Nghiên Cứu Gia tại Đối Thoại Liên-Mỹ. Ông là Thượng Nghị Sĩ của Chile từ 1994 tới 2002. Cả hai vị cùng là chủ biên của Democratic Transitions: Conversations With World Leaders (Chuyển Tiếp Dân Chủ: Đàm Luận Với Lãnh Đạo Thế Giới). Bài viết này dựa vào tài liệu đó.

--- oOo ---

Cách đây gần 5 năm, các cuộc biểu tình của quần chúng Ai Cập đã truất phế nhà độc tài Hosni Mubarak. Phần lớn các quan sát viên địa phương và ngoại quốc tin rằng Ai Cập trên đường tiến đến tương lai dân chủ; một số còn tuyên bố rằng dân chủ đã đến. Nhưng rồi khi Mohamed Morsi và Đảng Tự Do và Công Lý của Huynh Đệ Hồi Giáo thắng cử đã dẫn đến tình trạng phân cực và bạo loạn, và vào năm 2013 sau khi xảy ra thêm các cuộc biểu tình quần chúng, Tướng Abdel Fattah el-Sisi làm đảo chánh cướp chính quyền. Kể từ đó chế độ của Sisi đã sát hại hơn 1.000 thường dân, bỏ tù hàng vạn người và đàn áp truyền thông và xã hội dân sự.

Quốc gia Tunisia lân cận thì khấm khá hơn. Làn sóng nổi dậy Á-rập bắt đầu từ nơi đây năm 2010, và chính quyền dân chủ hậu cách mạng Tunisia đã tồn tại. Họ thành công với một công việc quan trọng trong tiến trình chuyển hóa: thỏa thuận một hiến pháp mới, một thành quả ghi nhận bởi Ủy Ban Nobel khi họ trao giải Nobel Hòa Bình cho bộ tứ tổ chức xã hội dân sự đóng vai trò tích cực trong tiến trình chuyển tiếp tại Tunisia. Nhưng nền dân chủ Tunisia vẫn còn mỏng manh, đe dọa bởi bạo lực chính trị, đàn đáp đối kháng, và vi phạm nhân quyền. Tại Cuba rồi cũng có hy vọng cho một tương lai dân chủ khi giới lãnh đạo độc đoán già nua bắt đầu đưa ra một số cải tổ. Và tại Miến Điện, cuộc chuyển tiếp chậm và không đều từ chế độ quân phiệt sang chính quyền đa nguyên đang diễn ra nhưng vẫn còn nhiều khó khăn.
Bộ Tứ Tunisia đóng vai trò tích cực trong tiến trình chuyển tiếp tại Tunisia.
Điều gì xác định nỗ lực chuyển tiếp dân chủ sẽ thành công? Kinh nghiệm của quá khứ giúp cho chúng ta một số thấu hiểu. Chúng tôi phỏng vấn với 12 cựu tổng thống và một cựu thủ tướng, những người đóng vai trò quan trọng trong tiến trình chuyển hóa dân chủ thành công tại Ba Tây, Chile, Ghana, Indonesia, Mễ Tây Cơ, Phi Luật Tân, Ba Lan, Nam Phi, và Tây Ban Nha. Một số là lãnh đạo trong các chế độ độc đoán tuy nhiên đã giúp lèo lái quốc gia họ về hướng dân chủ. F.W. de Klerk, tổng thống Nam Phi, thương thảo với Nelson Mandela và African National Congress (ANC) để chấm dứt chính sách kỳ thị (apartheid). B. J. Habibie, phó tổng thống dưới thời cai trị của nhà độc tài lâu năm, Suharto, trở thành tổng thống sau khi Suharto từ chức dưới áp lực của các cuộc biểu tình quần chúng rầm rộ. Habibie thả hết tù nhân chính trị, hợp thức hóa công đoàn, chấm dứt kiểm duyệt báo chí, cho phép lập đảng phái chính trị mới, và thay đổi nền chính trị của Indonesia, dẫn đường tới dân chủ lập hiến.

Những vị lãnh đạo khác có vị trí nổi trong phong trào đối lập đã chấm dứt chế độ độc đoán và sau đó giúp xây dựng nền dân chủ ổn định. Patricio Aylwin, một lãnh tụ đối lập với Tướng Augusto Pinochet, nhà độc tài lâu năm của Chile, trở thành vị tổng thống đắc cử đầu tiên sau khi phục hồi dân chủ năm 1990. Tadeusz Mazowiecki, một nhà trí thức Công Giáo và một lãnh tụ của công đoàn Đoàn Kết, trở thành thủ tướng đầu tiên của Ba Lan hậu cộng sản.

Chúng tôi cũng phỏng vấn những nhân vật bắt cầu: các lãnh tụ đi từ chuyên quyền sang dân chủ, chẳng hạn như Aleksander Kwasniewski, một bộ trưởng trong chính quyền cộng sản có tham dự các cuộc hội thảo Bàn Tròn dẫn đến cửa ngỏ dân chủ cho Ba Lan. Sau đó, trong vai trò tổng thống, ông giúp xây dựng các định chế dân chủ cho Ba Lan. Fidel Ramos, một sĩ quan quân đội cao cấp của Phi Luật Tân dưới thời chuyên chế của Ferdinand Marcos, tham gia vào phe đối lập khi xảy ra các cuộc biểu tình rộng lớn của Quyền Lực Quần Chúng năm 1986. Sau đó ông là bộ trưởng quốc phòng, rồi trở thành tổng thống thứ nhì của nền dân chủ hậu Marcos.

Mặc dầu các lực chính trị, dân sự, xã hội ở bình diện lớn đóng những vai trò quan trọng, những vị lãnh đạo này là chìa khóa của sự chuyển hóa thành công tại quốc gia họ. Họ giúp chấm dứt chế độ độc đoán và xây dựng nền dân chủ lập hiến để thay vào đó, định chế hóa qua các cuộc bầu cử khá công bằng, cộng với sự hạn chế quyền lực của hành pháp và bảo đảm các quyền chính trị căn bản – và không có thay đổi nào bị lật ngược lại. Nền dân chủ vẫn còn là công việc tiếp diễn tại một số quốc gia này, nhưng sự chuyển tiếp chủ yếu đã thay đổi sự phân bố quyền lực và lề thói chính trị.

Dĩ nhiên là không có mô hình nào phù hợp với tất cả thay đổi dân chủ. Nhưng các cuộc chuyển tiếp trong quá khứ cho ra một số bài học có thể áp dụng một cách khái quát. Các nhà cải tổ dân chủ phải sẵn sàng tương nhượng vì họ ưu tiên tiến triển từng bước hơn là đòi giải pháp toàn diện. Họ phải xây dựng liên minh, bắt tay liên lạc với một số người bên trong chế độ, và vật lộn với những câu hỏi về công lý và trừng phạt. Và họ phải đem quân đội vào dưới sự kiểm soát của dân sự. Những ai quan tâm đến việc xây dựng dân chủ từ sự đổ vỡ của độc tài có thể tăng xác suất thành công bằng cách noi theo những biện pháp sau đây.

CHUẨN BỊ NỀN TẢNG

Một cuộc chuyển tiếp dân chủ thành công bắt đầu từ lâu trước khi các vị dân cử nhậm chức. Phe đối lập trước nhất phải đạt được đủ sự hậu thuẫn của quần chúng để thách thức khả năng cầm quyền của chế độ và cho thấy họ là người khả dĩ để nắm quyền. Các lãnh tụ đối lập phải huy động biểu tình; lên án việc giam cầm, tra tấn, và trục xuất đối kháng; và xói mòn lẽ chính thống của chế độ trong và ngoài nước.

Những việc này đòi hỏi phải vượt qua những bất đồng sâu sắc trong phe đối lập về mục tiêu, sự lãnh đạo, chiến lược, và chiến thuật. Đa số các nhà lãnh đạo chuyển tiếp mà chúng tôi phỏng vấn làm việc cật lực để khắc phục những chia rẽ và xây dựng liên minh các lực lượng đối lập, đoàn kết các đảng chính trị, phong trào xã hội, công nhân, sinh viên, tổ chức tôn giáo, và các nhóm lợi ích doanh nghiệp quan trọng quanh một đường hướng chung. Tại Ba Lan, công đoàn Đoàn Kết làm việc gần gũi với các tổ chức sinh viên, trí thức, và các nhân tố của Tòa Thánh Công Giáo. Phong trào đối lập của Ba Tây thuyết phục giới công nghiệp tại São Paulo hỗ trợ cho mục tiêu của họ. Tại Tây Ban Nha, các nhóm đối lập giải quyết những khác biệt của họ để rồi tiến đến Hiệp Ước Moncloa 1977, trong đó đồng ý cách điều hành kinh tế trong thời kỳ chuyển tiếp.

Nhà độc tài Slobodan Milosevic
 Ngược lại, khi mà phe đối lập không đoàn kết được, viễn ảnh dân chủ không thành. Tại Venezuela, sự bất hòa nghiêm trọng về cách đối đầu thế nào với chính quyền đã ngăn ngừa không cho phép phe đối lập khai thác cách quản trị kinh tế yếu kém của chính quyền. Tại Serbia, Slobodan Milosevic ngày càng trở nên độc đoán kể từ khi nắm quyền năm 1989 cũng vì phe đối lập không thể đoàn kết với nhau. Tại Ukraine, cuộc Cách Mạng Cam của 2004-2005 làm đảo lộn kết quả cuộc bầu cử được cho là gian lận. Nhưng sự chia rẽ trong nhóm cải cách đã làm trì trệ sự phát triển của định chế dân chủ và pháp quyền, kéo thêm một thập niên của chính trị đầu sỏ và mục nát chính trị.

Phong trào dân chủ đối lập cũng cần bắt tay với những người từng cộng tác với chế độ trong quá khứ nhưng bây giờ sẵn sàng ủng hộ dân chủ. Chú trọng về những bất bình của quá khứ thường không ích lợi gì, do đó giới cải cách dân chủ nên luôn luôn bày tỏ thái độ tích cực và có viễn kiến hướng về tương lai để đánh bạt đi nỗi sợ hải bao trùm mà các chế độ độc đoán gây ra. Cùng lúc, họ nên cản bước những ai không chịu từ bỏ bạo lực hoặc cứ khăng khăng đòi tự trị sắc tộc, khu vực, hoặc tôn giáo.

Nhưng đoàn kết phe đối lập chưa đủ; các lực lượng dân chủ phải thấu hiểu và khai thác sự chia rẽ bên trong chế độ đương thời. Để thuyết phục các thành phần trong chế độ chấp nhận thay đổi, giới cải tổ phải có những hứa hẹn khả tín là sẽ không trả thù hoặc tịch thu tài sản của họ. Phong trào đối lập nên có nỗ lực để nói chuyện được với những thành phần trong chế độ muốn có đường thoát, cùng lúc đó cô lập những kẻ ngoan cố. Thí dụ như chiến lược cốt lõi của nhà cải cách Ba Tây Fernando Henrique Cardoso là thúc đẩy các thành phần trong quân đội liên lạc tìm đường thoát.

Tiếp đó, những người đang nắm quyền thấy có nhu cầu từ bỏ chế độ độc đoán phải tìm cách để giữ vững sự hậu thuẫn của nhóm hỗ trợ họ trong khi thương thảo với nhóm đối lập. Những buổi họp của de Klerk cho thành viên của bộ nội các vào năm 1989 và 1990 là mô hình của việc này. Trong các buổi họp đó, ông xây dựng sự đồng thuận kín đáo trong nội các cho những bước đột ngột sắp tuyên bố: hợp thức hóa ANC, trả tự do cho Mandela và các tù nhân chính trị khác, và mở ra các cuộc thương thảo chính thức.

F.W. De Klerk hủy bỏ lệnh cấm tổ chức ANC và đã trả tự do cho ông Nelson Mandela vào năm 1994.
Liên lạc trực tiếp giữ phe đối lập và chế độ lúc đầu có thể diễn ra trong vòng bí mật, nếu cần thiết, như trong trường hợp của việc liên lạc sơ khởi giữa giới chức chính quyền và đại diện ANC, diễn ra bên ngoài Nam Phi trong giữa thập niên 80. Đối thoại không chính thức, chẳng hạn như thảo luận Bàn Tròn tại Ba Lan, có thể giúp cho các nhân sự trong chế độ và phe dân chủ đối lập thông hiểu nhau, vượt qua những thành kiến, và xây dựng mối quan hệ làm việc. Như de Klerk nhận xét, “Bạn không thể giải quyết xung đột mà đôi bên không nói chuyện với nhau… Để đàm phán thành công, bạn phải đặt mình vào vị trí của người kia. Phải suy nghĩ thấu đáo trường hợp của họ và xác định … những yêu cầu tối thiểu [của họ] nhằm bảo đảm có được sự hợp tác, góp phần xây dựng trong tiến trình đàm phán.”

Trong suốt tiến trình, giới cải cách phải tạo áp lực lên chế độ và dám chấp nhận rủi ro để đạt được tiến triển liên tục, dầu nó chỉ từ từ và tiệm tiến. Họ phải chuẩn bị để tương nhượng, ngay cả khi chỉ đạt được phần nào những mục tiêu quan trọng và khiến cho một số người hỗ trợ bức xúc. Gạt bỏ những lập trường đòi hỏi tối đa thường cần có sự can đảm chính trị hơn là bám chặt vào những lập trường hấp dẫn nhưng không thực tế. Tiến hành việc chuyển tiếp dân chủ không phải là công việc của kẻ giáo điều.

Tại Ghana chẳng hạn, John Kufuor, lãnh tụ của đảng Tân Ái Quốc (New Patriotic Party), không chấp thuận việc đảng của ông tẩy chay cuộc bầu cử 1992, lập luận rằng đảng nên tham gia cuộc bầu cử 1996, dù có thể thua. Chiến thắng sau đó của Kufuor trong cuộc bầu cử 2000 dẫn đến việc chuyển giao quyền lực một cách ôn hòa bằng lá phiếu, kiểu cách này vẫn tiếp tục cho đến nay. Và tại Mễ Tây Cơ, Ernesto Zedillo, tuy là một thành viên nổi tiếng của đảng Cách Mạng Thể Chế (PRI) nắm quyền nhiều năm, nhưng ông ủng hộ những cải tổ nhỏ trong các thủ tục bầu cử với phe đối lập vào thời điểm mà đảng PRI khó mà mất quyền hành sau 7 thập niên cai trị. Sau đó, trong vai trò tổng thống, ông đồng ý tiếp tục thay đổi về tài chánh khi vận động và tăng quyền hành cho cơ quan trách nhiệm bầu cử. Tất cả những điều này giúp cho việc chuyển giao quyền lực từ đảng PRI sang phe đối lập năm 2000.

Mối nguy hại khi từ chối thỏa hiệp hiện rõ trong trường hợp Ai Cập. Trong thời gian Huynh Đệ Hồi Giáo nắm quyền ngắn ngủi, nhóm nhất định đeo đuổi chương trình Hồi Giáo khi soạn thảo hiến pháp mới, và điều này khiến đa số quần chúng xa lánh. Tại Chile, các thành phần cực tả của phe đối lập cổ vũ “đấu tranh mọi mặt”, kể cả bạo lực, đối với chế độ Pinochet. Đến năm 1986, đa số trong phong trào đối lập hiểu ra là họ không thể tháo gỡ độc tài dùng vũ lực và việc liên kết với nhóm cực tả đã làm hoen ố phong trào đối lập. Họ chuyển qua lại tranh đấu ôn hòa và cam kết xây dựng “quê hương cho tất cả mọi người.” Hướng giải quyết này giúp phe đối lập thắng Augusto Pinochet trong cuộc bầu cử 1988, mà thoạt đầu nhiều người trong phe đối lập muốn tẩy chay.

DÂN SỰ VÀ LỰC LƯỢNG AN NINH

Lật đổ một chế độ độc đoán là một chuyện; cầm quyền là một chuyện khác hẳn. Lãnh đạo thời chuyển tiếp thường gặp áp lực phải đuổi hết nhân sự cũ và bắt đầu mới hoàn toàn, nhưng họ không nên: cầm quyền đòi hỏi cách nhìn, nhân sự, và kỹ năng khác hẳn với những điều cần cho phe đối lập. Một khi phe đối lập nắm quyền, bước quan trọng nhất là chấm dứt bạo loạn và phục hồi trật tự, cùng lúc bảo đảm là các lực lượng an ninh phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Qua các cuộc phỏng vấn chúng tôi thấy những thách đố dai dẳng trong mối quan hệ giữa quân đội và thường dân. Các nhà cải cách phải đặt các lực lượng an ninh dưới quyền kiểm soát của dân sự càng sớm càng tốt, cùng lúc đó công nhận và tôn trọng vai trò chính đáng của các lực lượng này, cung cấp cho họ nguồn lực đầy đủ, và bảo vệ nhóm lãnh đạo không bị trả thù vì những hành vi đàn áp trong quá khứ.

Để làm được việc này, lực lượng công an cảnh sát và tình báo nội địa phải được tách rời ra với quân đội. Cần cấy tư tưởng mới vào đầu óc công an đối với quần chúng qua việc nhấn mạnh trách nhiệm của công an là bảo vệ người dân chứ không phải đàn áp, nhưng không làm giảm khả năng của lực lượng công an giải tán các nhóm bạo lực. Các nhà cải cách nên đuổi các sĩ quan cao cấp chịu trách nhiệm về việc tra tấn và đàn áp thô bạo, đặt các sĩ quan quân đội cao cấp dưới quyền trực tiếp của bộ trưởng quốc phòng gốc dân sự, và nhấn mạnh với các sĩ quan quân đội hiện dịch hoàn toàn không can dự vào công việc chính trị.


Ông B.J. Habibie, vị tổng thống được dân bầu lên sau khi nhà độc tài Suharto tại Indonesia bị truất phế.
Những bước trên nói thì dễ hơn làm, và để thực hiện chúng đòi hỏi sự đánh giá chính trị sắc bén và can đảm. Trong một số tình huống, chúng có thể làm sớm, trong tình huống khác, sẽ mất nhiều thời gian. Nhưng chúng cần sự ưu tiên ngay từ đầu, và thường xuyên theo dõi. Như Habibie giải thích, khi nói về quan hệ giữa quân đội và dân sự tại Indonesia, “Đối với những người điều hành giai đoạn chuyển tiếp … phải chứng minh, không bằng lời nói hay viết, mà bằng hành động, tầm quan trọng của việc dân sự kiểm soát.”

Viên chức dân sự cao cấp được giao trách nhiệm giám thị lực lượng an ninh nên có kiến thức về vấn đề an ninh và tôn trọng những viên chức ngang hàng trong quân đội, cảnh sát và cơ quan tình báo. Điều này có thể khó khăn khi mà phong trào dân chủ từng đụng độ kịch liệt với lực lượng an ninh, khi mà sự không tin tưởng lẫn nhau vẫn còn, và khi thiếu sự tôn trọng những chuyên gia dân sự trong lãnh vực quân sự.

Giới lãnh đạo thời chuyển tiếp phải cân bằng ước muốn bắt lỗi chế độ cũ với nhu cần gìn giữ kỹ luật và tinh thần của lực lượng an ninh. Họ phải nuôi dưỡng bầu không khí chấp nhận lẫn nhau ôn hòa giữa các kẻ cựu thù gay gắt – không phải chuyện dễ. Chỉ khi đó người dân mới bắt đầu tin tưởng một nhà nước mà nhiều người đã bác bỏ cho là không chính danh và đối nghịch, và chỉ khi đó các lực lượng an ninh sẽ cộng tác hết mình với người dân mà họ trước đó cho là phản động.
 
Theo tác giả, vì quân đội có ưu thế vượt trội các thể chế được bầu ra khiến cho việc chuyển tiếp dân chủ tại Ai Cập bị thất bại.
Đặt lực lượng an ninh dưới quyền kiểm soát của dân sự là một trong những thách đố dai dẳng mà các nền dân chủ mới phải đối diện. Tại Ai Cập quân đội vẫn có ưu thế vượt trội các thể chế được bầu ra chính là lý do khiến cho việc chuyển tiếp dân chủ bị thất bại. Và ở những quốc gia khác nhau như Gambia, Miến Điện, và Thái Lan, thiếu vắng việc dân sự kiểm soát quân sự là lý do chính ngăn cản tiến trình chuyển tiếp dân chủ thành công.

THÁCH ĐỐ VỀ HIẾN PHÁP

Đặt quân đội dưới quyền kiểm soát của dân sự có thể giúp giới lãnh đạo thời chuyển tiếp lấy được sự tin tưởng của người dân và được quốc tế công nhận. Tương tự vậy, việc phát triển các thủ tục bầu cử phản ảnh được ý kiến của đa số và trấn an thành phần thua phiếu là những mối quan tâm cốt lõi của họ được tôn trọng dưới pháp luật. Tại hầu hết các quốc gia, dự thảo một bản hiến pháp mới là điều thiết yếu, mặc dầu Indonesia giữ lại bản hiến pháp 1945 với một số điều khoản thay đổi và Ba Lan chưa nhìn nhận hiến pháp mới cho đến vài năm sau khi chế độ cộng sản sụp đổ.

Nên có nhiều người tham gia vào tiến trình dự thảo bản hiến pháp đáp ứng được những quan tâm trọng yếu của các thành phần cốt cán, ngay cả khi điều này có thể phải chấp nhận tạm thời những biện pháp giới hạn dân chủ. Đơn cử là hệ thống bầu cử thiên vị tồn tại ở Chile 25 năm trời sau khi chấm dứt chế độ Pinochet để xoa dịu quân đội và các nhóm bảo thủ; và việc ban phát chức vụ phó tổng thống cho người lãnh tụ đối lập tại Nam Phi. Để xây dựng sự hậu thuẫn rộng rãi cho bản hiến pháp mới có thể đòi hỏi phải cột vào những ước vọng cao xa mà sau này cần kéo lùi lại hoặc sẽ được thực hiện dần dà, thí dụ như điều khoản về kinh tế xã hội đầy tham vọng của bản hiến pháp Ba Tây 1988, trong đó nêu ra các quyền lao động, cải tổ nông nghiệp, và bảo hiểm sức khoẻ bao quát.

Mặc dầu từ ngữ chính xác của bản hiến pháp là điều quan trọng, quan trọng hơn là việc như thế nào, khi nào và ai sẽ chấp nhận bản hiến pháp đó. Nhóm soạn thảo phải tranh thủ được nhiều thành phần chấp nhận nó và bảo đảm là không quá dễ hay cực kỳ khó khăn để tu chính hiến pháp sau này khi điều kiện cho phép. Nhiều người chỉ trích ông Aylwin khi đưa ra công thức về ủy ban sự thật tại Chile có thể đem lại công lý “với xa tới mức có thể được” – nhưng điều được gọi là "có thể" được nới rộng ra nhiều năm. Mục tiêu chính yếu nên là tranh thủ sự chấp nhận rộng rãi những quy luật căn bản của tiếp cập dân chủ. Ông Thabo Mbeki, vị tổng thống thứ nhì của Nam Phi sau thời kỳ thị nhận xét, “Quan trọng là hiến pháp do toàn thể người dân Nam Phi làm chủ và do đó tiến trình soạn thảo hiến pháp phải có đủ mọi thành phần.”

Tiến trình phải kể cả những người ủng hộ chế độ cũ, để họ được trấn an là quyền hạn của họ được tôn trọng dưới pháp luật. Việc truy tố hàng loạt các cựu viên chức là điều không khôn ngoan chút nào. Giới lãnh đạo mới thay vào đó nên thiết lập tiến trình pháp lý minh bạch để tìm sự thật về những ngược đãi trong quá khứ, nhìn nhận và có thể đền bù cho nạn nhân, và khi có thể, đem các thủ phạm chính ra công lý. Mặc dầu hòa hợp hoà giải toàn diện có thể không thực hiện được, tha thứ cho nhau là một mục tiêu cốt cán. Lại một lần nữa, thỏa hiệp là điều quan trọng.

GIỮ CÂN BẰNG

Khi tiến trình chuyển tiêp dân chủ bắt đầu bám rễ, quần chúng thường đổ thừa cho giới lãnh đạo dân chủ - và đôi khi luôn cả nền dân chủ - khi không đạt được mong đợi về kinh tế hoặc chính trị. Chính quyền mới thường thừa hưởng luôn cả tình trạng tham nhũng và thiếu hiệu năng đã ăn sâu trong gốc rễ. Phong trào từng đoàn kết nhau để chống lại chế độ độc tài bây giờ có thể chia rẽ, bất đồng. Các tổ chức xã hội dân sự từng góp phần vào phong trào đối lập trước đó nay có thể tàn lụi hoặc gây cản trở, nhất là sau khi nhiều người lãnh đạo có khả năng tham gia vào chính quyền hay chính trị đảng phái.
Thiết lập quan hệ xây dựng giữa một chính quyền mới và một phe đối lập mới là một thách đố tiếp diễn. Cạnh tranh giữa một chính quyền và phe đối lập là điều lành mạnh cho nền dân chủ, nhưng việc phe đối lập gây rối cản trở hoặc việc chính quyền đàn áp các chỉ trích có thể làm hủy hoại nền dân chủ một cách nhanh chóng. Một nền tư pháp độc lập có thể buộc hành pháp có trách nhiệm mà không cản trở quá nhiều sự chủ động, và một nền báo chí tự do, có trách nhiệm có thể giúp giữ cho nền dân chủ bền vững.

Các đảng chính trí cũng đóng vai trò quan trọng, miễn là chúng không trở thành công cụ của các cá nhân. Các đảng dân chủ có chương trình và có tổ chức tốt cung ứng cách tốt nhất để lôi kéo các thành phần quần chúng, huy động áp lực hữu hiệu, vận động hỗ trợ lâu dài cho các chính sách, chuyển tải đòi hỏi của quần chúng, nhận dạng và đề bạt các lãnh đạo có khả năng. Việc phát triển các đảng phái mạnh đòi hỏi lưu tâm cẩn thận đến thủ tục và cách bảo vệ việc chọn ứng viên, tài chính đi vận động, và tiếp cận truyền thông. Các thách đố vẫn tiếp diễn đối với các chính phủ dân chủ tại Ghana, Indonesia, và Phi Luật Tân là vì các đảng phái chính trị yếu kém.

Mặc dầu tiến trình chuyển tiếp thường khởi động vì nguyên dân chính trị hơn là kinh tế, những thách thức kinh tế sớm trở thành ưu tiên cho chính quyền mới. Giảm nghèo đói và thất nghiệp có thể mâu thuẫn với cải cách kinh tế cần thiết để kích thích tăng trưởng dài hạn và ổn định kinh tế toàn quốc. Trước khi sự hậu thuẫn của quần chúng sút giảm, chính quyền nên thực hiện các biện pháp xã hội làm giảm bớt khó khăn của các thành phần bị thiệt thòi nhất, nhưng họ cũng cần lưu ý đến ngân sách. Giới lãnh đạo của các thời chuyển tiếp mà chúng tôi nghiên cứu đều áp dụng các biện pháp thị trường và chính sách tài chánh và tiền tệ vĩ mô cẩn trọng, nhưng đa số tiến hành thận trọng để tránh làm quần chúng sợ hãi là lợi ích của người dân bị đánh đổi cho giới quyền thế. Ngay cả những thành phần ban đầu đối nghịch với thị trường tự do cũng đồng ý là thị trường là cần thiết trong một nền kinh tế ngày càng toàn cầu hóa, song song với các chính sách xã hội vững chắc có thể giúp phát triển kinh tế đồng đều.

Như lịch sử can thiệp của Tây Phương vào vùng Trung Đông cho thấy rõ, dân chủ không phải là món hàng xuất khẩu. Nhưng các tác nhân bên ngoài, chính phủ hay không-chính phủ, có thể hỗ trợ hữu hiệu chuyển tiếp dân chủ nếu họ tôn trọng các lực lượng bản xứ và chỉ dính vào theo lời mời. Đôi khi họ có thể cung ứng những điều kiện cần thiết để đối thoại trầm lặng giữa giới lãnh đạo đối lập với nhau và giữa phe đối lập và đại diện của chế độ. Họ có thể cố vấn cho nhiều vấn đề thực tế, từ việc làm sao tiến hành vận động bầu cử đến cách làm sao sử dụng truyền thông hữu hiệu, và cuối cùng là cách giám sát cuộc bầu cử. Cấm vận kinh tế có thể giúp kềm chế sự đàn áp, như ở Ba Lan và Nam Phi. Và các quốc gia bên ngoài có thể ngõ ý viện trợ và đầu tư để hỗ trợ chuyển tiếp dân chủ, như ở Ghana, Phi Luật Tân, và Ba Lan. Hỗ trợ kinh tế của thế giới trong thời chuyển tiếp có thể tạo thêm thuận tiện cho việc cải tổ chính trị nếu hỗ trợ đó đáp ứng ưu tiêu của địa phương và với sự hợp tác của tác nhân địa phương.

Tuy nhiên sự can thiệp quốc tế không thể thay thế sự chủ động bên trong. Tác nhân bên ngoài nhiều phần hữu hiệu khi chịu lắng nghe, nêu câu hỏi tương tự như trải nghiệm của họ, và khuyến khích người địa phương xem xét các vấn đề từ nhiều góc cạnh khác nhau.

MỘT THẾ GIỚI ĐỔI THAY

Các tác nhân mới, kỹ thuật mới, áp lực kinh tế, và các động lực địa chính trị đã biến đổi khung cảnh của việc chuyển hóa dân chủ xảy ra ngày nay. Bất cứ ai với một cái điện thoại di động có thể châm ngòi cho một cuộc biểu tình rầm rộ khi thâu cảnh bạo hành của công an. Truyền thông xã hội có thể uốn nắn dư luận quần chúng nhanh chóng và cho phép người tổ chức tập hợp một số đông ủng hộ viên. Nhưng những kỹ thuật mới này không thay thế được công việc nặng nhọc của xây dựng thể chế. Như ông Cardoso, nhà hoạt động người Ba Tây trở thành tổng thống sau này, nhận xét, “Vấn đề nằm ở chỗ là rất dễ để huy động đi phá hủy nhưng rất khó để xây dựng lại. Kỹ thuật mới tự chúng không đủ để tiến thêm bước nữa. Cần có thể chế, cùng với khả năng thấu hiểu, xử lý, và thi hành sự lãnh đạo kéo dài theo thời gian.” Như ông Kufuor nói: “Quần chúng không xây dựng thể chế. Đó là lý do sự lãnh đạo rất quan trọng.”
Điện thoại di động và mạng xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc huy động số đông xuống đường trong các cuộc nổi dậy của Mùa Xuân Ả Rập, tuy nhiên không thay thế được công việc nặng nhọc của xây dựng thể chế.
Trong những năm trước mặt, các phong trào xã hội và các tổ chức xã hội dân sự, tăng sức bởi mạng điện tử, có lẽ sẽ áp lực các chế độ chuyên quyền nhiều hơn và hữu hiệu hơn quá khứ. Nhưng những phong trào này vẫn không thể thay thế cho đảng phái chính trị và các lãnh đạo. Họ là những tác nhân để rồi cuối cùng lập ra thể chế, xây dựng các liên minh ứng cử và nắm quyền, chiếm được sự ủng hộ của quần chúng, chuẩn bị và thực thi các chính sách, kêu gọi hy sinh cho quyền lợi chung, gây hứng khởi cho quần chúng tin vào nền dân chủ, và nắm quyền hữu hiệu.

Khó để mà xây dựng nền dân chủ bền vững và hoạt động ở những quốc gia nơi mà không có kinh nghiệm của tự chủ, nơi mà các tổ chức dân sự và xã hội mỏng manh, và nơi mà các thể chế nhà nước yếu kém không có khả năng cung ứng dịch vụ và an ninh đầy đủ. Dân chủ còn có thể khó thiết lập ở những quốc gia với sự phân tranh về sắc tộc, tôn giáo, khu vực. Và các chính quyền dân chủ được bầu lên dầu vậy có thể chuyên quyền khi lờ đi, làm yếu đi, hay đối xử qua loa với những hạn chế về lập pháp và tư pháp của một thể chế dân chủ đòi hỏi. Và chính những quốc gia này cần có thay đổi dân chủ cấp bách. Ví dụ của Ghana, Indonesia, Phi Luật Tân, Nam Phi, và Tây Ban Nha cho thấy những thử thách này có thể được giải quyết, ngay cả trong những quốc gia với sự chia rẽ sâu sắc.

Thời buổi này có thể có nhiều người trẻ có học được huy động để biểu tình ở quảng trường cho dân chủ, đặc biệt là ở nơi mà có thất nghiệp cao. Tuy nhiên, thách đố ở đây là làm sao kéo họ thường xuyên vào việc xây dựng đảng phái lâu bền và các định chế khác. Dân chủ không xuất hiện trực tiếp hay sẽ đến từ số đông đường phố. Xây dựng dân chủ đòi hỏi viễn kiến, thương thảo và thỏa hiệp, làm việc cật lực, kiên trì, khả năng, lãnh đạo – và một số điều may mắn. Dầu có trở ngại, chuyển tiếp dân chủ đã thành công trong quá khứ. Học hỏi và áp dụng những bài học của kinh nghiệm thành công có thể giúp chấm dứt chế độ chuyên quyền và lập ra nền dân chủ bền vững thay vào đó.

Hoàng Thuyên lược dịch
Nguồn: Foreign Affairs

Theo Chân Trời Mới Media